Đạo gia Khí công

Tìm kiếm chi tiết  

Tác giả Chủ đề: Nhật ký Thái Ất thần kinh.  (Đã xem 2043 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

heart_of_sword

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1183
  • mộc
    • Xem hồ sơ cá nhân
Nhật ký Thái Ất thần kinh.
« vào: 15 Tháng Mười Hai, 2012, 18:44:30 PM »

Từ hôm nay vào các buổi tối KT sẽ dành thời gian nghiên cứu thêm môn Thái Ất Thần Kinh của cụ Trạng Trình. Môn này phải nói là rất uyên thâm và khó hiểu. Hi vọng với chút thời gian ít ỏi KT có thể nắm được mốt chút nào đó về môn này mà ứng dụng "trông trời, trông đất, trông mây".

Thread này lưu lại nhật ký và các bài sưu tầm của KT về môn này. Hi vọng các sư huynh, các anh có hứng thú, có nghiên cứu về môn này khi qua thread này có thể chỉ bảo thêm và chỉnh sửa những chỗ sai lầm cho KT.

KT.
Bạn chưa đăng nhập
Om mani padme hum - Liên Châu

anhdung61

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 363
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Nhật ký Thái Ất thần kinh.
« Trả lời #1 vào: 16 Tháng Mười Hai, 2012, 11:46:52 AM »

Mình cũng có quyển Thái Ất Thần Kinh của Nguyễn Bĩnh Khiêm rất lâu rồi nhưng xem mãi không hiểu. KT cố nghiên cứu thông tin có gì anh em nhé, ủng hộ 100%.
Bạn chưa đăng nhập

heart_of_sword

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1183
  • mộc
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Nhật ký Thái Ất thần kinh.
« Trả lời #2 vào: 17 Tháng Mười Hai, 2012, 00:45:35 AM »

haha, KT mới đọc hết được Lời nói đầu trong quyển này. Nghe nói Thái Ất thần kinh đã bị tam sao thất bản và sáo trộn. Có nghĩa là đọc theo chính văn sợ sẽ có tính sai nhưng mà KT cứ đọc thử. Đến đâu hay đến đó vậy. :D
Bạn chưa đăng nhập
Om mani padme hum - Liên Châu

heart_of_sword

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1183
  • mộc
    • Xem hồ sơ cá nhân
Sơ lược về Thái Ất
« Trả lời #3 vào: 17 Tháng Mười Hai, 2012, 00:56:26 AM »

Sơ lược về Thái Ất

Thái Ất thần kinh hay Thái Ất là một trong ba môn học xếp vào tam thức (Thái Ất, Độn giáp, Lục nhâm đại độn).

Thái Ất tức là Thái Nhất, tên gọi khác của Thần Bắc cực.

Trong tam thức, Thái Ất thiên về Thiên, nó nghiên cứu sự chuyển động của các tinh tú ảnh hưởng đến Trái Đất, đến con người.

Theo một số sách bói kinh điển, Thái Ất là tôn thần của thiên đế, ở trước sao Bắc thần, chủ sai khiến 16 thần. Sao Thái Ất chủ về dự đoán gió mưa, hạn hán lụt lội, chiến tranh đói rét bệnh tật, xem tình hình trong nước, sao Thái Ất chủ sự hưng vong, lịch số dài ngắn.

Mục lục:
1 Ðối tượng dự trắc
2 Cách lập quẻ
2.1 Số niên cục
2.2 Số nguyệt cục
2.3 Số nhật cục
2.4 Số thời cục
3 An các sao chính
4 Cách đoán quẻ
5 Lưu ý
6 Tham khảo


Ðối tượng dự trắc
Theo Lê Quý Ðôn (1726-1784), xem Thái Ất có bốn cách:

Tuế kế (kể năm) để xem sự lành hay dữ của quốc gia. Ðó là việc của các vua và hoàng hậu làm, để sáng chính hoá, sửa đức giáo, xét cơ động, tĩnh.
Nguyệt kế (kể tháng), để xem lành hay dữ. Ðó là bậc công khanh xem, để xét biện được hay mất, mà điều hoà sự hoà hay trị.
Nhật kế (kể ngày), để đo lường hoạ phúc trong nhân gian, sử dụng cho mọi người để xét lớn hay nhỏ, hưng hay suy.
Thời kế (kể giờ), để vận trù mưu kế sách lược, xác định về chủ, khách, thắng, thua. Phàm thiên văn đổi khác, các nước lân bang động hay tĩnh, thế trận hai bên có tương đương hay không, xã hội bình yên hay có giặc cướp, đều dùng Thời kế mà xem.
Lê Quý Ðôn viết:

"Thuyết ấy (Thái Ất) phần nhiều nói về binh pháp: địch ta, chủ khách, lợi hại, được mất, cái cơ thịnh suy, trị loạn; cái thế thắng thua, yên hay nguy, không điều gì là không bày rõ. Nếu hiểu lẽ ấy mà biết phòng bị, ứng phó thì có thể tìm điều lành, tránh điều dữ, tiêu hoạ, vời phúc thì, mới là người giỏi dùng sách Thái Ất vậy...Làm tướng mà không biết sách ấy thì sẽ mờ tối ở chỗ đánh hay giữ, tiến hay ngừng; không lấy gì mà quyết đoán các nghi mưu khi ra trận tuyến; làm tể tướng mà không biết sách ấy thì sẽ sai lầm ở sự động hay tĩnh, cất lên hay đặt xuống; không lấy gì để quyết đoán những nghị luận lớn cho triều đình..."
(Bài tựa cho sách Thái Ất Dị giản lục - bản dịch của Ðặng Ðức Lương, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin, Việt Nam năm 2001).

Sách Thái Ất Thần kinh tương truyền là của Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585), (bản dịch của Nguyễn Ngọc Doãn (1912-1989) với bút hiệu là Thái Quang Việt – Nhà xuất bản Văn hoá Dân tộc – 2002) cũng viết:

"...Thái Ất kể ngày luận về mệnh hạn người đời. Ðo biết hoạ phúc, định luận không sai. Suy rõ mấu chốt, nên cẩn thận tinh tường, diệu ở huyền vi tỏ biết.
...Phép này mọi người dân gian sử dụng để đo lường hoạ phúc cho mình, vào đời dựng nghiệp lớn hay nhỏ, được hưng hay suy, biết mấu chốt mà định luận không sai về vận hạn sống trong đời sao cho hợp với đạo nhà, đạo nước và đạo học đúng nghĩa quen gọi là Ðạo Người."
và:

"...Xem Thái Ất kể giờ chú trọng vào con toán nhất, rồi xem xét các chướng ngại (tù, giam, cấp...) được sử dụng cho công việc hàng ngày, nhất là xem cho việc binh bị, chủ khách thắng thua, nước ngoài động tĩnh, vận trù kế sách; đặc biệt xem thiên văn đổi thay, xã hội bị ảnh hưởng vì mưa nắng, bão gió, giặc cướp không."

Cách lập quẻ
Tính số cục bao gồm niên cục, nguyệt cục, nhật cục và thời cục.

Số niên cục
Mỗi nguyên tý có 72 năm. Niên cục là số từ 1 đến 72 trong mỗi nguyên tý. Người ta dùng mốc tính tích niên từ Thượng cổ, năm Giáp Tý đời Thiên hoàng, cách năm CN 10.153.917 năm. Để tính số niên cục của một năm, sử dụng công thức:

Tính Tích niên (Tuế tích) = (số của năm xem) + 10.153.917
Tích niên chia 3.600
Phần dư của phép chia trên chia 360
Phần dư của phép thứ 2 chia 72 số dư của phép chia này chính là số niên cục.
Có một số thuyết tính mốc tích niên từ Trung cổ, năm Giáp Dần đến năm tuổi Việt (tuổi Việt lấy năm dương lịch là năm 2879 TCN cộng với năm xem)

Từ Thượng cổ, năm Giáp Tý đời Thiên hoàng đến Trung cổ, năm Giáp Dần cách nhau 10.141.310 năm.

Nếu dùng mốc Trung cổ, năm Giáp Dần, những vì sao xuất phát từ Thượng cổ, năm Giáp Tý thì phải thêm số doanh sai, tính toán phiền phức.

Ví dụ năm 2006 (Bính Tuất), dương cục là: Tích niên = 2006 + 10.153.917 = 10.155.923, chia tích niên cho 3.600 được số dư 323, phần dư lại chia tiếp 360 dư 323, phần dư này chia tiếp cho 72 được số dư 35. Vậy được số niên cục dương 35.

Số nguyệt cục
Cục tương ứng với tháng gọi là nguyệt cục. Cách tính là lấy số tích tháng từ Thượng cổ, năm Giáp Tý đến tháng xem, cộng thêm hai tháng Tý, Sửu vì người ta dùng lịch kiến Dần; hai tháng này gọi là Thiên Chính, Ðịa Chính.

Công thức tính:

Tính số tích tháng từ định tính so với mốc = (10.153.917 + [năm trước năm có tháng xem])*12 + 2 + [số của tháng xem]
Chia số Tích tháng tính được cho 360
Phần dư của phép chia trên chia tiếp cho 72, số dư là nguyệt cục.
Ví dụ: Tính nguyệt cục của tháng Mậu Dần năm Canh Thìn (2000)

Từ Thượng cổ Giáp Tý đến năm trước năm có tháng xem (năm 1999) có: 10.153.917 + 1999 = 10.155.916 năm, 10.155.916 * 12 = 121.870.992 tháng. Số tháng Thiên Chính, Ðịa Chính và tháng cần xem (1) là 3, nghĩa là phải cộng thêm 3 được tổng số tháng = 121.870.992 + 3 = 121.870.995. Lấy số này : 360 dư 195, 195 : 72 dư 51. Như vậy tháng Mậu Dần năm Canh Thìn (2000) thuộc nguyên Nhâm Tý, có Nguyệt cục dương 51.

Một số thuyết tính gốc Nguyệt cục là ngày mồng một (Mậu Ngọ) tháng 11 (Bính Tý), năm Giáp Tý, năm đầu niên hiệu Nguyên Gia, vua Tống Văn Ðế nhà Tống (420-479) ở Trung Quốc thời kỳ Nam-Bắc triều (Tương ứng với ngày 7 tháng 12 năm 424). Sách Thái Ất dị giản lục có ghi cách tính này.

Ví dụ: Tính Nguyệt cục của tháng Mậu Dần năm Canh Thìn (2000)

Từ tháng Bính Tý năm Giáp Tý (năm 424) đến tháng Ất Hợi (tháng trước tháng Bính Tý) năm Kỷ Mão (năm 1999) có: (2000-1) – 423 = 1.576 năm. Lấy số năm (1.576) * 12 được 18.912 tháng (mỗi năm 12 tháng). Từ tháng tháng Bính Tý năm Kỷ Mão (1999) đến tháng Mậu Dần năm Canh Thìn (2000) có 3 tháng. Vậy số Tích tháng = 18.912 + 3 = 18.915. Lấy số này chia cho 360 dư 195. Lấy dư số chia cho 72 dư 51. Như thế tháng Mậu Dần năm Canh Thìn (2000) thuộc nguyên Nhâm Tý, dương có Nguyệt cục dương 51.

Nguyên tắc: niên cục dương thì nguyệt cục cũng dương; niên cục âm thì nguyệt cục cũng âm.

Số nhật cục
Phương pháp tính:

Sau tiết Đông chí, tìm ngày Giáp Tý đầu tiên gần nhất sau Ðông chí năm trước, lấy đó làm gốc đếm trở đi, tích cho đến ngày xem, được bao nhiêu là số tích ngày.
Chia số tích ngày đó cho 360 phần dư lại tiếp tục chia cho 72, còn dư lại bao nhiêu chính là nhật cục.
Theo sách Thái Ất thần kinh, chỉ có thời kế là có phân biệt âm cục, dương cục.
Một số thuyết áp dụng cục âm dương trong Thái Ất kể ngày. Cục âm, dương tính như sau: Từ Đông chí đến trước ngày Hạ chí, là dương cục; từ Hạ chí đến trước ngày Đông chí, thuộc âm cục (chú ý tính ngày phải xét đến cả giờ chuyển tiết, khí)

Thí dụ: Tính nhật cục ngày 14 tháng 12 năm 1992 dương lịch.

Tính Nhật cục theo Thái Ất thần kinh:

Ngày Ðông chí năm trước: 22 tháng 12 năm 1991

Ngày Giáp Tí đầu tiên gần nhất sau Ðông chí năm trước là ngày 18 tháng 02 năm 1992 (Ngày Giáp Tí (15) tháng Nhâm Dần, năm Nhâm Thân)

Số ngày tích lại: 14/12/1992 - 18/02/1992 + 1 = 301 đem chia cho 360 được số dư 301. Số dư chia tiếp cho 72 được số dư là 13.

Vậy ngày 14/12/1992 có Nhật cục 13.

Có thuyết tính mốc tích ngày là ngày Giáp Tí (01) tháng Giáp Tí (11), năm Quý Hợi thuộc niên hiệu Cảnh Bình đời Tống tương ứng với ngày 19 tháng 12 năm 423 theo dương lịch.

Trước hết tính số ngày từ gốc là ngày 19 tháng 2 năm 423 tới ngày 18 tháng 2 trước ngày xét và tính được tròn số từ năm 423 tới năm xét.

Tiếp đó người ta sử dụng công thức tính làm tròn ngày tích 365,2425 ngày/năm với số năm.

Bước tiếp theo tính số ngày lẻ từ ngày 19 tháng 2 tới ngày xét.

Lấy tổng số ngày (số tích ngày) chia 360 lấy dư. Lại chia tiếp 72 lấy dư làm số Nhật cục.

Có thuyết quy định tính Tích Nhật dựa vào Tích Nguyệt. Sách Thái Ất dị giản lục có ghi cách tính này.

Số thời cục
Cách tính:

Cục âm dương của thời cục cũng tính như Nhật cục
Số giờ từ ngày Giáp Tí hoặc Giáp Ngọ gần nhất sau Ðông chí năm trước đến ngày, giờ muốn tính
Chia số giờ đó cho 360, số dư lại chia tiếp 72 số dư chính là Thời cục.
Ví dụ: Tính thời cục giờ Nhâm Tý, ngày Mậu Tuất (23 tháng 1 năm 1992)

Ngày Giáp Ngọ gần nhất sau Ðông chí là 19 tháng 1 năm 1992. Số ngày tích lại = 23/01/1992 - 19/01/1992 = 4. Số tích giờ 4*12 = 48 giờ. Cộng thêm 1 giờ của ngày Mậu Tuất là 49 giờ. 49 chia 360 dư 49, lại chia 49 cho 72 dư 49. Ngày 23 tháng 1 năm 1992 sau Đông chí thuộc dương cục. Vậy tính được Thời cục 49 Dương.

Cách tính số Niên cục, Nguyệt cục, Nhật cục, Thời cục gọi là Tứ kế (Tuế kế, Nguyệt kế, Nhật kế, Thời kế)

An các sao chính
Thái Ất
Tiểu Du Thái Ất, Tiểu Du Thiên Mục và Đại Du.
Thái Tuế
Thần Hợp
Kể Định (Kể Mục) và Toán Định
Kể Thần
Thái Âm
Văn Xương
Thủy Kích
Toán Chủ - Toán Khách
Đại Tướng Chủ
Đại Tướng Khách
Tham Tướng (Tiểu Tướng) Chủ và Khách
Ngũ Phúc
Quân Cơ
Thần Cơ
Dân Cơ
Tứ Thần
Thiên Ất
Địa Ất
Trực Phù (Phép Tôn)
Phi Phù
Phi Lộc Phi Mã
Hạn Dương Cửu
Hạn Bách Lục – Vào quẻ

Cách đoán quẻ
Sau khi an được quẻ Ất, căn cứ vào tính lý các cung, sao, căn cứ thuyết âm dương, ngũ hành sinh khắc, quy luật sinh vượng, chú ý các trạng thái vô thường của Thái Ất, nếu có và tùy theo lập quẻ Ất kể năm, kể tháng, kể ngày hay kể giờ mà tiến hành luận đoán.

Trong trường hợp lập quẻ Ất kể ngày xem mệnh, còn phải hạn Dương cửu, hạn Bách Lục, căn cứ quẻ, hào Kiếp Sống tìm được, để dự đoán đời sống tiến lui lành dữ; căn cứ quẻ, hào Thái Tuế lưu niên tìm được, để dự đoán các việc và khi nào xảy ra trong năm ấy.

Lưu ý
Cũng mang tên môn Thái Ất còn có Thái Ất thần quẻ, là phương pháp ứng dụng Dịch lý để lập quẻ dự đoán bằng hình thức lắc hào. Quẻ gồm có năm hào, mỗi lần gieo một đồng tiền để xin Âm Dương cho từng hào, khác với môn Thái Ất này, không trình bày ở đây.

Tham khảo
Bằng tiếng Việt: Truyền lại đến ngày nay có hai bộ Thái Ất do hai soạn giả đồng thời vào thế kỷ 18:
Một bộ là Huyền Phạm tiết yếu của Phạm Ðình Hổ (1768-1840) sửa lại bộ Huyền Phạm của Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585). Cuốn này được Nguyễn Ngọc Doãn (1912-1989) với bút hiệu là Thái Quang Việt dịch sang quốc âm năm 1972; Nhà Xuất bản Văn Hoá Dân tộc phát hành với tên gọi Thái Ất Thần kinh ghi tên tác giả là Trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Năm 2002, Nhà Xuất bản Văn Hoá Dân tộc cho tái bản sách Thái Ất Thần kinh được sửa chữa, bổ sung thêm những phần thiếu sót.
Bộ thứ hai là Thái Ất Dị giản lục của Lê Quý Ðôn (1726-1784). Sách này được Ðặng Ðức Lương dịch, Nhà Xuất bản Văn hoá Thông tin in năm 2002.
Có người còn có Thái Ất diễn quái bí lục của Nguyễn Xuân Quang, nhưng ít thấy bán trên các hiệu sách tại Việt Nam.
Bằng tiếng Trung:
Thái Ất kim kính thức kinh
Thái Ất thống tông bảo giám
Thái Ất thống tông đại toàn
Những sách này ít thấy bán trong các cửa hiệu sách ở Việt Nam.
Bạn chưa đăng nhập
Om mani padme hum - Liên Châu

heart_of_sword

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1183
  • mộc
    • Xem hồ sơ cá nhân
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Hai, 2012, 14:37:46 PM gửi bởi heart_of_sword »
Bạn chưa đăng nhập
Om mani padme hum - Liên Châu

anhdung61

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 363
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Nhật ký Thái Ất thần kinh.
« Trả lời #5 vào: 17 Tháng Mười Hai, 2012, 08:22:31 AM »

Mình thấy ở đây có bàn chuyên đề về Thái Ất, mọi người vào xem:

http://www.vietlyso.com/forums/forumdisplay.php?f=33
Bạn chưa đăng nhập

heart_of_sword

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1183
  • mộc
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Nhật ký Thái Ất thần kinh.
« Trả lời #6 vào: 17 Tháng Mười Hai, 2012, 10:47:51 AM »

Cách tính toán lập bàn của Thái Ất khá phức tạp. KT mới đọc lướt qua quyển Thái Ất thần kinh thôi. Các hành văn diễn giải quá khó hiểu ;)).
Cũng may mà có internet nên có thể tham khảo các lập bàn theo ngôn ngữ hiện đại, dễ hiểu hơn :D.

Thái Ất có khoảng hơn 30 sao nên xem luận chắc đỡ hơn Tử Vi :D
Bạn chưa đăng nhập
Om mani padme hum - Liên Châu

heart_of_sword

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1183
  • mộc
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Nhật ký Thái Ất thần kinh.
« Trả lời #7 vào: 17 Tháng Mười Hai, 2012, 22:00:31 PM »

Các công thức tính toán của Thái Ất hơi rối rắm, KT đang viết lại chương trình tính sau dùng cho nó tiện :D
Bạn chưa đăng nhập
Om mani padme hum - Liên Châu

heart_of_sword

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1183
  • mộc
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Nhật ký Thái Ất thần kinh.
« Trả lời #8 vào: 18 Tháng Mười Hai, 2012, 01:24:58 AM »

"Theo sách Thái Ất Thần Kinh thì Tuế Kể, Nguyệt Kể, và Nhật Kể thì chỉ dùng dương độn, chỉ có Thời Kể thì mới dùng cả 2 khối âm và dương.
Tích nguyệt phải cộng 2, vì chúng ta gọi tháng giêng âm lịch là tháng Dần (Kiến Dần), Thơì xưa họ dùng tháng 11 là tháng giêng (Kiến Tý), cho nên ta phải cộng 2 vậy."


Cách an sao thái ất.
Tính tích tuế: 10153917 + năm dương lịch

Tính Kỷ dư: lấy số dư của phép chia tích tuế cho 360. (Nếu chia hết cho 360 thì lấy kỷ dư là 360).
Tính Nguyên: lấy kỷ dư chia cho 72, làm tròn tăng 1 của thương nhận đc từ phép chia này.
Tính Cục: lấy kỷ dư chia cho 72, lấy số dư của phép chia này thì đó là cục. Nếu chia hết thì lấy cục = 72.

Bàn thái ất:
Có 16 cung như sau:
Tý (Khãm), Sửu, Cấn, Dần, Mão, Thìn, Tốn, Tỵ, Ngọ (Ly), Mùi, Khôn, Thân, Dậu, Tuất Kiền Hợi

[Tốn ][Tỵ ][Ngọ][Mùi][Khôn]
[Thìn]------------------- [Thân]
[Mão]------------------- [Dậu ]
[Dần ]------------------- [Tuất]
[Cấn ][Sửu][Tý ][Hợi][Càn ]

Cung Chính: càn, tý, cấn, mão, tốn, ngọ, khôn, dậu
Cung Giáng: sửu, dần, thìn, tỵ, mùi, thân, tuất hợi
Mỗi cung chính có 1 biệt số như sau:
Biệt số: càn 1, ngọ (ly) 2, cấn 3, mão (chấn) 4, trung cung 5, dậu (đoài) 6, khôn 7, tý (khãm) 8, tốn 9

Cung số: tý 1, sửu 2, cấn 3, dần 4, mão 5, thìn 6, tốn 7, tỵ 8, ngọ 9, mùi 10, khôn 11, thân 12, dậu 13, tuất 14, càn 15, hợi 16, và trung cung là 0.

Chi số: tý 1, sửu 2, dần 3, mão 4, thìn 5, tỵ 6, ngọ 7, mùi 8, thân 9, dậu 10, tuất 11, hợi 12.

Can số: giáp 1, ất 2, bính 3, đinh 4, mậu 5, kỷ 6, canh 7, tân 8, nhâm 9, quý 10.

Thuận hành là theo chiều kim đồng hồ, nghịch hành là ngược chiều kim đồng hồ. Thuận hành thì chi số, cung số, hay biệt số tăng, và nghịch hành thì giảm.

Bạn chưa đăng nhập
Om mani padme hum - Liên Châu

heart_of_sword

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1183
  • mộc
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Nhật ký Thái Ất thần kinh.
« Trả lời #9 vào: 18 Tháng Mười Hai, 2012, 01:36:09 AM »

Cách an sao Thái Ất:

"Tuế Kể nên tìm vòng Kỷ Dư.
Lấy 24 để dần trừ.
Trừ c òn không hết, đem 3 rút.
Rút khỏi, từ Kiền 1 chuyển khư
3 tuế 1 rời, không thái quá.
Thuận quanh, 5 giữa chẳng vào ư."

Trích: Thái Ất thần kinh.

Thái Ất (Ất Cả)
Ts = kd@24
Cs = ceil(Ts / 3)
Nn = Ts@3

Ts: Thừa số, số dư chia cho vòng (thái ất 1 vòng 24 năm nếu là tuế kể)
Cs: Cung thứ mấy theo thứ tự hành cung, tức là đã đi vào cung thứ mấy của hàng thứ tự hành cung
Nn: Niên ngự, đã ở tại cung Ct được bao nhiêu năm hay số.

Thái Ất đi 1 vòng 24 năm (hay 24 số), qua 8 cung chính, mỗi cung 3 năm (hay 3 số).
Khối dương, khởi TS tại cung Càn 1 đi thuận 8 cung chính theo biệt số và không vào trung cung, mổi cung 3 số theo thứ tự hành cung, Càn 1, Ngọ (Ly) 2, Cấn 3, Mão 4, Dậu 6, khôn 7, tý 8, tốn 9. Khi hết số an Thái ất tại cúng ấy.
Khối âm, khởi TS tại Tốn 9 đi nghịch 8 cung chính theo biệt số, không vào trung cung, mổi cung 3 số, theo thứ tự như sau, Tốn 9, Tý 8, Khôn 7, Dậu 6, Mão 4, Cấn 3, Ngọ 2, Càn 1. Hết số tại đâu an Thái ất tại đó.

Thí dụ: năm Đinh Mão, 1987 DL
Tích Tuế = 10153917+1987 = 10155904
Kỷ dư = tích tuế chia cho 360 dư 304
Nguyên = kỷ dư chia 72 được thương làm tròn 5
5 là Nhâm trong ngũ tý (Giáp tý 1, bính tý 2, mậu tý 3, canh tý 4, nhâm tý 5)
Cục = Kỉ dư chia 72 dư 16.

PS: Sao Thái Ất chỉ đi qua 8 cung chính, mỗi cung đi 3 năm mới hết. Vậy dựa vào số năm để tính ra hiện giờ thái ất đi qua đc bao nhiêu vòng, và đang đi qua cung nào rồi.

Thừa số = Kỷ dư chia 24 dư 16 (số năm sao Thái Ất đi qua trong 1 vòng)
Ct = Ceil(Thừa số/3) = 6. Số cung mà Sao thái Ất đang ở. Do mỗi cung mất 3 năm, nên tính số cung chỉ cần lấy thừa số chia 3, được thương chính là số cung.
Nn = Thừa số chia 3 dư 1. Là số năm Thái Ất đang ngự ở cung tính phía trên.

Như vậy, ta có Thái Ất đang An tại cung .Khôn theo dương cục. Vì đi qua lần lượt các cung là:
Cung càn năm 1 đến năm 3
Cung Ngọ (Ly) năm 4 đến năm 6
Cung Cấn năm 7 đến năm 9
Cung Mão (chấn) năm thứ 10 đến năm thứ 12
Cung Dậu (Đoài) năm thứ 13 đến năm thứ 15. (Do ko qua Trung cung nên từ mão sang Dậu luôn)
Cung Khôn năm thứ 16. Và đang ở cung này đc 1 năm.
« Sửa lần cuối: 18 Tháng Mười Hai, 2012, 01:48:19 AM gửi bởi heart_of_sword »
Bạn chưa đăng nhập
Om mani padme hum - Liên Châu

heart_of_sword

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1183
  • mộc
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Nhật ký Thái Ất thần kinh.
« Trả lời #10 vào: 18 Tháng Mười Hai, 2012, 10:35:09 AM »

Bàn thái ất:

Bạn chưa đăng nhập
Om mani padme hum - Liên Châu

heart_of_sword

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1183
  • mộc
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Nhật ký Thái Ất thần kinh.
« Trả lời #11 vào: 18 Tháng Mười Hai, 2012, 11:13:24 AM »

Buổi tới KT sẽ lấy luôn năm Quý Tỵ 2013 để làm bài tập lên bàn Thái Ất luôn cho tiện vừa học vừa thực hành.
Bạn chưa đăng nhập
Om mani padme hum - Liên Châu

heart_of_sword

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1183
  • mộc
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Nhật ký Thái Ất thần kinh.
« Trả lời #12 vào: 20 Tháng Mười Hai, 2012, 13:18:12 PM »

Thần Kể
Thần Kể đi một vòng 12 số (12 năm, 12 tháng, 12 ngày, hay 12 giờ), nghịch hành 12 chi, mổi cung 1 số.

Khối dương, khởi Ts tại cung Dần 3, đi nghịch 12 cung chi theo chi số, theo thứ tự hành cung, Dần 3, Sửu 2, Tý 1, Hợi 12, Tuất 11, Dậu 10, Thân 9, Mùi 8, Ngọ 7, Tỵ 6, Thìn 5, Mão 4, mổi cung 1 số.
Khối âm, khởi Ts tại cung Thân nghịch hành 12 cung chi, theo thứ tự Thân 9, Mùi 8, Ngọ 7, Tỵ 6, Thìn 5, Mão 4, Dần 3, Sửu 2, Tý 1, Hợi 12, Tuất 11, Dậu 10.

Thái Tuế
Thái Tuế đi một vòng 12 số, thuận hành 12, mổi cung 1 số. Thật ra Thái Tuế là Chi của năm, nhưng Kỷ dư chia 12 lấy số dư cũng cho bạn chi của năm – Tích Tuế. Khối dương và âm đều vậy (hoặc nói không có khối âm cũng vậy).

Khởi Thừa số từ cung Tý 1, đi thuận 12 cung theo chi số, theo thứ tự hành cung Tý 1, Sửu 2, Dần 3, .... Hợi 12.
Hay đơn giản hơn là Thừa số được bao thì an Thái Tuế vào cung chi có chi số tương ứng. Hay càng đơn giản hơn nửa là chi năm là gì thì an Thái Tuế vào cung chi đó.

Thần Hợp
Thần Hợp đi một vòng 12 số, an theo cung số nhị hợp, mỗi cung 1 số.

Nhị hợp còn gọi là Lục hợp,được kết hợp bởi hai chi sau:

TÍ hợp Sửu
Dần hợp Hợi
Mão hợp Tuất
Thìn hợp Dậu
Tỵ hợp Thân
Ngọ hợp Mùi
« Sửa lần cuối: 20 Tháng Mười Hai, 2012, 13:36:29 PM gửi bởi heart_of_sword »
Bạn chưa đăng nhập
Om mani padme hum - Liên Châu