Đạo gia Khí công

Tìm kiếm chi tiết  

Tác giả Chủ đề: Thử bàn về tứ thiền và tứ không.  (Đã xem 5340 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

Hoc-dao

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1054
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Thử bàn về tứ thiền và tứ không.
« Trả lời #75 vào: 08 Tháng Mười Hai, 2016, 22:46:18 PM »

Bạn Gminhduc nói cũng đúng 1 phần rồi, nhưng có lẽ chưa đc đầy đủ… và có lẽ bạn cũng chưa hiểu hết ý của Hòa thượng… :)...

Mọi người có thể tham khảo trong Kinh lăng nghiêm- Phần “Đánh chuông thực nghiệm tánh thường”- đoạn “Chỉ ra tánh nghe là thường trụ” -bản dịch của bác sỹ Tâm Minh Lê Đình Thám trang 334 ; Còn trong sách Phật học phổ thông thì ở quyển 2, bài 10, mục 9  “Phật bảo đánh chuông để chứng nghiệm tánh nghe thường còn”.

Về phần -Phật chỉ cái “thấy” thường còn thì là ở mục 5,6 bài 3, Phật học phổ thông; Trong sách của bác sỹ Tâm Minh thì ở phần cuối quyển 1, chỗ gạn hỏi ý nghĩa 2 chữ khách trần- trang 71.
« Sửa lần cuối: 08 Tháng Mười Hai, 2016, 23:45:32 PM gửi bởi Hoc-dao »
Bạn chưa đăng nhập

Hoc-dao

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1054
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Thử bàn về tứ thiền và tứ không.
« Trả lời #76 vào: 08 Tháng Mười Hai, 2016, 22:50:59 PM »

Tiện HD cũng nói 1 thêm chút là bản dịch của bác sỹ Tâm Minh phần "Phân biệt tình tưởng nặng nhẹ" trang 609 có viết:

Thuần là tưởng thì lìền bay lên, chắc sanh lên cõi trời…
Tình ít tưởng nhiều cất lên ko xa, thì làm Phi tiên…
Tình tưởng cân bằng ko bay lên, ko đọa xuống…
Tình nhiều tưởng ít, đi vào các loại hoành sanh nặng làm giống có lông, nhẹ làm giống có cánh…
Bảy phần tình, ba phần tưởng, chìm xuống dưới thủy luân…thân làm ngạ quỷ….

Mọi người muốn tìm hiểu thêm thì tham khảo!... :)...
Bạn chưa đăng nhập

Hoc-dao

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1054
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Thử bàn về tứ thiền và tứ không.
« Trả lời #77 vào: 08 Tháng Mười Hai, 2016, 23:28:58 PM »

...tiếp theo 15 hạng chúng sanh... :)...

* Bốn đường ác:

1. Địa ngục: có 2 loại: Vô gián và Hữu gián.

+ Thân:
 - Địa ngục vô gián: 10 tình ( thuần tình), là thuộc vật lý, chưa có sự sống, thân chai lỳ trơ cứng…vv…
   Là đất nước lửa gió…chưa có sự sống. Ở trên con người có thể coi như là các chất thải cơ thể như: nước mắt, mồ hôi, nước tiểu, ghèn, phân…vv...
 - Địa ngục hữu gián: thuộc sinh lý, bắt đầu có sự sống…có 9 tình- 1 tưởng.
   Là đất nước lửa gió đã có sự sống, đã thọ khí âm dương…như đất mầu mỡ, nước thì chứa nhiều phù sa…
 Ở trên thân thể con người có thể coi là phù trần căn: là mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, óc…là bắt đầu đã có sự sống sinh lý rồi mà chưa có cái biết.

+ Tâm:
 Chưa có cái biết. Giống như tâm người điên, tâm người tạo tội ngũ nghịch ( giết Cha mẹ, giết Alahán, làm Phật chảy máu, phá hòa hiệp tăng). Làm điều sai quấy được người nhắc nhở cũng ko biết…
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Mười Hai, 2016, 20:25:28 PM gửi bởi Hoc-dao »
Bạn chưa đăng nhập

Hoc-dao

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1054
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Thử bàn về tứ thiền và tứ không.
« Trả lời #78 vào: 09 Tháng Mười Hai, 2016, 19:55:56 PM »

2. Ngạ quỷ: Có 8 tình – 2 tưởng.

- Bên ngoài vũ trụ thì cỏ, cây cũng đc xem là ngạ quỷ ( theo bộ sách Chân lý- phần Lục căn - Khất sỹ Minh Đăng Quang )

- Thân: Ngạ quỷ có thân chuyên sống về dục vọng là cảm giác tham lam, đê tiện. Những người hay thích xe sua, trang điểm, chưng diện 1 cách thái quá….hoặc những người nào nương vào phù trần căn có cái đam mê dục vọng như: mắt thích nhìn sắc đẹp, tai thích nghe tiếng hay, mũi thích ngửi mùi thơm…lưỡi ăn uống thỏa thích…thân thích trau chuốt phấn son, xức ướp dầu thơm, quần là áo lượt tươi tốt…mà say mê, mê mờ 1 cách thái quá hay quá đáng... thì tuy mang thân người mà đã có tâm tiềm ẩn thuộc Ngạ quỷ rồi và khi chết nhiều khả năng là về đường ác Ngạ quỷ.

- Tâm: thuộc cảm giác, có cái biết nhưng chưa phân biệt đc rõ. Tâm tham lam, ranh ma, xảo quyệt, bỏn xẻn, vơ vét chiếm hữu vật chất bên ngoài về cho mình, cho gia đình mình. Làm điều sai quấy đc người nhắc nhở mà còn làm quấy thêm, hay làm cho người ta tức thêm…. :)...

3. Súc sanh: có 7 tình – 3 tưởng.

- Thân: chuyên sống theo bản năng sinh tồn.
- Ở bên ngoài là loài thú: trâu, bò, heo, chó, gà, vịt…vv…Hoặc là những người vì sự sinh tồn của xác thân nên phải cật lực lao động quần quật, lam lũ, đầu tắt mặt tối…
- Tâm: có cái biết phân biệt lờ mờ về dục vọng và sự vật. Chưa hiểu đc phải trái tốt xấu, tính hay sân giận, quạu quọ…làm bất cứ việc gì nhằm chiếm hữu vật chất bên ngoài về cho mình, cho gia đình mình. Làm điều sai quấy đc người nhắc nhở thì hay bảo thủ, nổi nóng, hay cãi cọ với người ta…. :)...

4. A tu la: có 6 tình – 4 tưởng.

- Thân: thường hành động bằng bạo lực…
- Thường hay là những vị thần thờ ở đình, miễu…hoặc những người thân đầy vết sẹo, thích mang gươm mề đay, vòng hoa chiến thắng…chuyên sống về quyền tước, công thần, địa vị...
- Tâm: có cái biết phân biệt về dục vọng và sự vật 1 cách lờ mờ. Chưa phân biệt được thiện ác rõ ràng…có cá tính tật đố, hay ganh tỵ, ham chiến đấu….thích đc tôn vinh, nịnh hót, khen thưởng…ghét bị chê bai, phê bình, góp ý….dùng bạo lực qua thân, khẩu để tranh giành chiếm hữu ngũ dục về cho mình, cho gia đình mình….làm điều sai quấy đc người nhắc nhở thì hay khinh khỉnh, đấu đá, đánh đấm người ta... :)...

Tóm lại: 4 đường ác có thân chuyên sống bằng phù trần căn, chưa biết giữ giới. Tâm thường tán loạn chưa có định, dùng Tưởng tri làm cái biết, thường sanh vào cảnh giới hèn hạ, khổ sở, tật nguyền….có đầy đủ 3 khổ: khổ khổ, hoại khổ, hành khổ.

* Bốn đường thiện:

5. Người: có 5 tình- 5 tưởng. Là giai đoạn chuyển tiếp từ ác sang thiện.

- Thân : sống bằng phù trần căn (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, óc thô phù) kết hợp với tịnh sắc căn.
- Trong vũ trụ, pháp giới chính là loài người.
- Tâm: đã có ý chí, bắt đầu chuyển từ Tưởng tri sang Thức tri. Chiếm hữu ngũ dục ( ngoại sắc ) về cho mình, cho gia đình mình... mà chiếm có luân lý... :)... Dùng ý chí chuyển nghiệp ác thành nghiệp thiện. Sống có luân lý, đạo đức biết thương mình thương người, biết cải sửa việc làm sai quấy, nhưng khi thì thành công khi thì lại thất bại vì chưa có kinh nghiệm già dặn, tuyệt vời như ở cõi trời Dục giới và Sắc giới...

---------------------------------------

Những phần sau của 15 hạng chúng sanh, HD đã trình bày rải rác ở trên vào bữa trước...nếu quan tâm thì mọi người chịu khó tham khảo lại nhé!... :)...
« Sửa lần cuối: 11 Tháng Mười Hai, 2016, 11:09:05 AM gửi bởi Hoc-dao »
Bạn chưa đăng nhập

ChanPhuong

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 667
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Thử bàn về tứ thiền và tứ không.
« Trả lời #79 vào: 09 Tháng Mười Hai, 2016, 22:03:55 PM »

Lý thuyết chút chém gió cho vui cùng mọi người... :)

Nói về tính thấy, tính nghe và "đối cảnh vô tâm" thì đâu có mâu thuẫn nhau nhỉ? Lời Phật dạy chắc không phải có một nghĩa? Hai vế đó suy đến cùng thì cũng nói về một thứ. Phật nhắc là tính thấy tính nghe mới là cái bất biến, biết dụng cái bất biến đó tức là "đối cảnh vô tâm" để nhận ra rằng cảnh bên ngoài chính là cái biến đổi luôn luôn, chớ có chấp vào đấy mà bị điên đảo. :))
« Sửa lần cuối: 09 Tháng Mười Hai, 2016, 22:07:38 PM gửi bởi ChanPhuong »
Bạn chưa đăng nhập

ChanPhuong

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 667
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Thử bàn về tứ thiền và tứ không.
« Trả lời #80 vào: 10 Tháng Mười Hai, 2016, 06:28:47 AM »

Những kiến thức anh HD cung cấp rất hay, nhưng cho rằng nó là cái riêng có, cái phát kiến hay độc đáo của đạo Phật e rằng mình chưa biết hết. Bản chất mọi sự nó có sẵn ở đó, luôn luôn tồn tại trong vũ trụ này, các tổ của các đạo chỉ là người đã hiểu được sự thật và đã diễn giải ra theo những ngôn ngữ khác nhau, cách thức khác nhau cho chúng sinh ở khu vực địa lý đó hiểu.

Lấy thí dụ, nói về cái Nhất thì đạo Nho và đạo Giáo đã có nói rồi. Mà ngày nay ở Phương Tây người ta cũng nói về cái nhất này mà không viện dẫn bất cứ vị tổ sư nào đã giảng trước đây theo một phong cách hoàn toàn mới (phong cách mới của newage), gọi là Luật Một của vũ trụ.

Về tình và tưởng, Hội thông thiên học người ta dùng thuật ngữ "thể vật lý", "thể tình cảm" và "thể trí" hay là tam giới. Thuần tưởng thì người ta gọi là 1 người sống thuần về lý trí. Người sống thuần về lý trí chưa lên được niết bàn, vẫn còn là dạng đệ tử cần phải qua vài chục kiếp sống tu tập nữa mới lên được. Nhưng xét về mặt kỹ thuật (không xét ý của từ) thì thuần tưởng người ta gọi là cõi giới chỉ có các ý tưởng (là là thuật ngữ, ở đây không nói tới ý tưởng thường thức hàng ngày mọi người hay dùng) tức là cõi trời.

Thể tình cảm khi nâng cấp lên thì là "bác ái", thể trí nâng cấp lên thì thành "minh triết". Chúa Jesus là biểu hiện của Bác ái và minh triết tại trần gian. Các vị Phật cũng vậy nhưng không có nói rõ bằng chúa Jesus có lẽ là vì người ta truyền giáo ở Phương Tây.

Về sự tiến hoá thuần tình tới thuần tưởng, Hội thông thiên học có nhiều cuốn sách viết rất chi tiết về các giới trong tự nhiên, giới kim thạch tiến hoá lên thảo mộc, thảo mộc lên động vật, rồi lên con người, rồi lên các vị đệ tử, các bậc đắc đạo, a la hán, bồ tát, phật...

Có thể nếu đào sâu chi tiết câu chữ định nghĩa, mọi người lại tranh cãi là các trường phái nói về những thứ khác nhau. Thì ai thích chia chẻ, cứ chia chẻ vậy. Còn mình cho rằng tất cả các phái về bản chất nội dung cuối cùng muốn diễn đạt đang nói giống nhau thôi. Ngôn ngữ là sự hiểu biết của loài người nhưng trong lĩnh vực tâm linh nó đôi khi lại là trở ngại gây ra sự chia rẽ, ngộ nhận làm cản trở sự tiến hoá tâm linh.

« Sửa lần cuối: 10 Tháng Mười Hai, 2016, 06:52:34 AM gửi bởi ChanPhuong »
Bạn chưa đăng nhập

ChanPhuong

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 667
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Thử bàn về tứ thiền và tứ không.
« Trả lời #81 vào: 10 Tháng Mười Hai, 2016, 07:10:52 AM »

Con đường tâm linh, đi vào ngóch ngách chi tiết quả là lắm thứ phức tạp và khó khăn.
Nhưng về lý thuyết, bỏ qua tất cả những chi tiết đó, thì ta có 2 đầu sợi dây đi tới vô cùng, một bên là tình hay là sự trọng trược, cô đặc của năng lượng, các rung động thô và thấp (như nhiều vị đã nói), một bên là tưởng hay là sự thanh nhẹ, ánh sáng hoá, các rung động cao và vi tế (như nhiều vị đã nói).

Hội thông thiên học gọi con đường đi từ đầu rung động vi tế tới đầu rung động thô là con đường "giáng hạ". Còn ngược lại thì gọi là con đường "tiến hoá" của linh hồn.
Bạn chưa đăng nhập

Hoc-dao

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 1054
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Thử bàn về tứ thiền và tứ không.
« Trả lời #82 vào: 10 Tháng Mười Hai, 2016, 21:50:42 PM »

ChanPhuong nói cũng đúng!...Mỗi tôn giáo lớn trên thế giới từ xưa đến nay, khi ra đời đều gắn với con người ở 1 vùng miền địa lý nào đó và phù hợp với dân chúng ở vùng miền ấy. Các tôn giáo đều có 1 sứ mệnh trong giai đoạn nào đó, khi hoàn thành sứ mệnh thì nó có thể đc thay đổi hoặc giao thoa với tôn giáo khác….

Chúng ta ko nên phân biệt tôn giáo vì rằng các tôn giáo đều bắt nguồn từ thực tại, 1 thực tại hiện tiền luôn có đó…vả lại sự phân biệt thì có lẽ cũng ít nhiều ảnh hưởng đến các tín đồ, môn sinh…nhất là với những người mới, căn cơ chưa vững vàng.

Nhưng mặt khác trên phương diện tu tập thì chúng ta cũng lại phải có con mắt trạch pháp, tức thấy rõ con đường tu tập của giáo pháp ấy cuối cùng rốt ráo đến mức độ nào, vị giáo chủ nằm ở đâu, trong phạm vi có thể đc….hay nói cho dễ hiểu thì mọi người thử nhìn xem giáo pháp của tôn giáo ấy có đưa hành giả về được Pháp thân Tỳ Lô Gía Na Phật hay Đại kỷ nguyên thứ 1 ko? Đưa về cái thực tại cuối cùng ko? Hay là chỉ ở đoạn giữa Đại kỷ nguyên thứ 2, hay đoạn cuối Đại kỷ nguyên thứ 3 thôi?….mọi người thử suy nghĩ xem…. :)...

HD ví dụ trong các tôn giáo ngoại đạo ở Ân độ thời đức Phật tại thế ( ngoại đạo ở đây ko phải là xấu mà là có kiến quan và con đường ngoài đạo Phật thôi ) có đạo Bà la môn cảnh giới cao nhất chỉ là cõi trời Phạm Thiên. Hành giả tu tập vào được tam muội, chỉ lên đc cõi trời Sắc giới thôi (nghĩa là vẫn ở trong Đại kỷ nguyên thứ 3) và thấy ngài Phạm Thiên ( là vị bồ tát khoảng đệ tam, đệ tứ địa) , thấy vị trời này hào quang sáng ngời, thần lực lại cao, nên các vị Bà la môn cho rằng chính vị Phạm Thiên đó là người tạo ra thế gian này, là bị rơi vào Thần ngã….chúng ta học đạo Phật thì biết rằng điều này ko phải vậy. Nên đức Phật ra đời bên Ấn độ là vậy, phù hợp với thời đó để giải những tà kiến cho ngoại đạo, nghĩa là các ông phải tu lên nữa đừng tạm hài lòng mà dừng lại đó, lên tới Sắc giới, Vô sắc giới rồi lọt vào Không hải - tàng thức ( tức là thức thứ 8 ) thì mới có cơ may đến giải thoát đc…

Ngoài ra thì có những phái tu khổ hạnh ngày ăn 1 hạt mè, giữ những giới cấm sai lầm như đứng co 1 chân lên suốt đời, bò sát đất và không ăn bằng tay...rất nhiều những giới cấm khổ sở cho dân chúng lẫn người tu hành, nên đức Phật đã thị hiện ra đời ở nơi đó....


« Sửa lần cuối: 10 Tháng Mười Hai, 2016, 22:18:27 PM gửi bởi Hoc-dao »
Bạn chưa đăng nhập

ChanPhuong

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 667
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Thử bàn về tứ thiền và tứ không.
« Trả lời #83 vào: 29 Tháng Một, 2017, 01:29:12 AM »

Hiểu đc Bát nhã thì chúng ta thấy có vẻ cũng dễ, chỉ là cái lặng lẽ nhận lại thôi... :)...

 “ngay trong cái sanh tử nhận lại cái vô sanh”
”ngay trong vô thường liễu tri cái chân thường”

Đây là câu đối đáp giữa ngài Huệ Năng và Huyền Giác khi ngài Huyền Giác lên núi nhờ ngài Huệ Năng ấn chứng cho, ngài Huyền Giác sau này đắc đạo viết bài Chứng Đạo Ca rất nổi tiếng.

Ta thấy đạo Phật chỉ 2 cái đó thôi là hết rồi, 2 câu này thâu tóm đạo Phật, 1 cái đi đến A la hán, 1 cái đi đến Như lai...

“ngay trong cái sanh tử nhận lại cái vô sanh”
Câu này ý là cái bất tử ko nằm ở đâu xa mà nằm ngay trong cái sanh tử, ta phải ngay trong cái sanh tử ấy mà nhận lại nó, nhận lại cái vô sanh, lặng lẽ nhận lại thôi…nhận lại1/4, 2/4, 3/4, 4/4 Phật tánh….đây là con đường để đi đến vị vô sanh A la hán.
 
”ngay trong vô thường liễu tri cái chân thường”
Là ngay trong vô thường cuộc sống này liễu tri được cái chân thường, đây chính là con đường bồ tát đạo để đạt cái pháp thân thường trụ Như lai thường, lạc, ngã, tịnh. Chính là quá trình Bồ tát, Như lai tùy thuận, thị hiện hay nhậm vận cuộc đời…nhiều danh từ khác nhau nhưng nghĩa cũng vậy thôi.

Trên đây như chúng ta vừa trình bày thì Bát nhã thật là giản dị, chỉ là lặng lẽ nhận lại thôi, mà ko cải sửa, thăng hoa hay đè nén gì…cũng ko tìm kiếm suy nghĩ gì hết.
Chính vì giản dị vậy nên có lẽ lại là rất khó, khó thực hành nữa, và cũng độc đáo nữa... trước đức Phật ở Ấn độ 62 tôn giáo bạn toàn là tu các pháp môn đối trị, đè nén hay cải sửa, thăng hoa để tu lên các cõi trời... toàn pháp môn tu Nhân thiên chứ ko có Bát nhã, ko có đạo Phật. Chỉ khi đạo Phật ra đời mới có Bát nhã- là ở ngay trong đó ko trốn tránh và nhận lại, là pháp môn ko có pháp môn, pháp môn bất nhị như theo từ của kinh Duy ma cật...

Gỉản dị nhưng mà cũng ko dễ thực hành như vậy…và chỉ khi nào hành giả xoay sở, tự tìm kiếm đủ kiểu rồi, thấy bất lực mệt mỏi chán chường đủ kiểu, đủ các pháp môn thăng hoa đè nén đối trị rồi và thấy rằng cái tử tưởng cái thông minh ko giải quyết đc vấn đề gì… thậm chí ko còn muốn đặt vấn đề nữa…vì còn đặt vấn đề là còn vọng tưởng, thì lúc này có cơ may hành giả tiếp cận đc với Bát nhã, tiếp cận đc thế giới vô niệm vì đã buông xuống, ko còn muốn tìm kiếm suy nghĩ bằng tư tưởng nữa…
Em đang đọc cuốn "Ánh sáng của Linh hồn" do chân sư DK và bà AAB bình giải về cổ thư "Yoga điển tắc của Patanjali" (Giáo huấn căn bản của Trường phái Xuyên Hy Mã Lạp Sơn), cũng nhắc rất nhiều tới Ấn Giáo, cho một cái nhìn khác, thấu suốt không khác gì đạo Phật, chỉ là theo một ngôn ngữ hơi khác, nhưng có thể so sánh được không khó.

Theo đó, quả vị A la hán tương đương lần điểm đạo thứ 4, ở Thái Dương Hệ có tối đa 7 lần điểm đạo. Trên cả Thái Dương Hệ còn nhiều lần điểm đạo cấp vũ trụ cao hơn (bất khả tư nghị).

Mới đọc, ngẫm và thử thực hành 1 tháng qua, em có nhận định khác về bình giải Bát Nhã tâm kinh, xin trình bày như sau:
"Khi ta nghe ta biết ta đang nghe"
Cùng là chữ "ta" nhưng ở đây nói về hai chủ thể khác nhau. "Ta" đầu là phàm ngã với các hình thể thấp (sắc giới, thuộc luân hồi sinh tử) đang nghe. "Ta" sau là Chân ngã/Chân nhân/Linh hồn/Chủ nhân ông đích thực (ngoài vòng luân hồi sinh tử) nhận biết phàm ngã đang nghe. Có nghĩa là Chân ngã không đồng hoá nó với phàm ngã. Chính nhờ nhận thức này mà ánh sáng linh hồn sẽ dần dần không còn bị che án nữa (Linh hồn bị bịt mắt vì nó đã tự đồng hoá với phàm ngã là khí cụ của nó do nhận thức "tôi là tôi"). Đây là một phương pháp tu luyện 2 trong một.
1. Quán niệm hành động của phàm ngã, chỉnh hợp 3 thể thấp với nhau một cách hài hoà (đẩy vô minh đi, giống như kinh quán niệm của Phật giáo)
2. Quán tưởng Linh hồn/chân ngã theo dõi mọi hành động phàm ngã, không đồng nhất Chủ nhân với khí cụ của Chủ nhân.

Cái "tính nghe" và "tính thấy" ở đây nếu xét góc độ của phàm ngã thì chỉ là giả tạm, không phải là thường tồn. Nếu để Linh hồn/chân ngã ("Ông") bị đồng hoá với khí cụ của nó lức là ông linh hồn/chân ngã = phàm ngã "nghe" và "thấy" thì tức là bị "điên đảo". Còn nếu xét "tính nghe" và "tính thấy" là của Linh hồn/chân ngã tức là Linh hồn/chân ngã luôn quan sát phàm ngã "nghe" và "thấy" thì mới là thường tồn.
Bạn chưa đăng nhập

ChanPhuong

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 667
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Thử bàn về tứ thiền và tứ không.
« Trả lời #84 vào: 05 Tháng Hai, 2017, 08:56:14 AM »

Đọc được đoạn đối chiếu mấy tôn giáo lớn của bà A.A.Bailey này, mặc dù bản thân chưa hiểu hết, em thấy rất hay xin chia sẻ với mọi người đọc để biết cho vui:

----------------------------
[184] Điều thú vị cần ghi nhận ở đây là sự đồng nhất trong giáo huấn của tất cả các tôn giáo và các chủng tộc về kỹ thuật đi vào cõi giới của linh hồn. Đến một trình độ nhất định trên đường tiến hóa, dường như tất cả mọi lối đều dẫn đến cùng một nơi, và tất cả những người hành hương đều đi đến cùng một vị trí trên Đường Đạo. Kể từ điểm tụ hội này, họ đi cùng một đường, vận dụng cùng những phương pháp, và sử dụng những lời lẽ giống nhau đến kỳ lạ. Rõ ràng là nay đã đến lúc chúng ta cần nhận thức thấu đáo điều nói trên khi ghi nhận sự nghiên cứu sâu rộng về tôn giáo đối chiếu, và sự tương tác giữa các giống dân. Hai yếu tố này đang liên tục phá đổ những rào cản cũ kỹ, và biểu dương tính duy nhất của linh hồn con người.

Nói chung, hầu như ở đâu Con Đường này cũng được chia thành ba giai đoạn chính, mà chúng ta có thể thấy, ví dụ như, trong ba tôn giáo lớn là các tín ngưỡng Thiên Chúa giáo, Phật giáo, và Ấn giáo. Trong giáo hội Thiên Chúa, người ta nói đến Con Đường Dự bị, Con Đường Thánh thiện, và Con Đường Khai ngộ. Ts. Evans-Wentz ở Oxford, trong phần giới thiệu của ông cho quyển sách Milarepa, Nhà Yogi Cao cả của Tây Tạng, có trích lời một huấn sư Ấn giáo như sau :

Theo ý tôi, ba trường phái chính của Tây Tạng đánh dấu ba giai đoạn trên Con Đường Giác ngộ hay tiến bộ tinh thần. Trong trường thứ nhất, người sùng tín phải theo những huấn thị và những điều ngăn cấm... tức là ‘bị ràng buộc theo những qui định’. Trong trường thứ hai, y đi theo nhưng lề lối truyền thống... trong đó những sự hạn chế thông thường được phần nào nới lỏng, dù người chí nguyện vẫn chưa được hoàn toàn tự do. Trong trường thứ ba, gọi là di-Yoga, khi qua thực hành yoga hành giả đã thấy được Ánh sáng thì không còn bất cứ hạn chế nào, vì y đã đạt đến trạng thái của Phật. [185]

.. Nói khái quát thì ba giai đoạn này tương ứng với “những điều mà kinh Tantras muốn nói khi đề cập đến... Trạng thái “của Người-Thú... Trạng thái của Người hùng, và Trạng thái của Bậc đã trở nên Thiêng liêng hay Giác ngộ.
”85

Phương pháp của Phật giáo Tây Tạng

Khi nghiên cứu cuộc đời của Milarepa, vị Thánh của Tây Tạng, sống vào thế kỷ thứ mười một và mười hai sau Công nguyên, chúng ta thấy rằng ông được khẳng định là đã đạt đến sự hợp nhất qua phương pháp nghiêm trì giới luật, hành thiền, và cuối cùng đạt được sự Giác ngộ, như những lời sau đây:

Ngài là bậc, sau khi thấu đáo được các khoa thần bí và huyền bí, đã tự thông đạt... liên tục đến bốn trạng thái chí phúc của sự hợp nhất xuất thần....

“Ngài là bậc, sau khi đạt được sự toàn tri, với thiện chí thấm nhuần tất cả và tình thương bừng cháy, cùng với việc hoạch đắc những quyền năng và đạo hạnh siêu việt, đã thành Phật do cố gắng tự phát triển, đến đỉnh cao chót vót, vượt lên trên tất cả những ý kiến mâu thuẫn và tranh cãi của các môn phái và giáo phái khác nhau....”
“Ngài hết sức chuyên cần và kiên trì tham thiền trên Đường Đạo Vô thượng.... Khi đã có đầy đủ năng lực vận dụng các trạng thái trí tuệ và những quan năng bên trong, Ngài chế ngự được những mối hiểm nguy gây ra do các yếu tố bên ngoài.... “Ngài thực hành hoàn hảo bốn giai đoạn của tham thiền (phân tích, quán tưởng, sùng kính, chân phúc. Đây là bốn trạng thái tăng tiến của trí tuệ, đưa đến sự định trí hoàn toàn, tạo nên trạng thái xuất thần khai ngộ)....

“Ngài là vị thầy uyên bác nhất trong Khoa học về Trí tuệ, và đã chứng tỏ rằng hiển nhiên Trí tuệ là cái Khởi đầu và Kết thúc của toàn bộ các hiện tượng hữu hình, cả về mặt vật chất lẫn tinh thần. Ngài biết rằng những Tia sáng của trí tuệ khi được chiếu rạng vô ngại sẽ tự phát triển qua năng lực tự do cố hữu [186] của chúng thành ba trạng thái biểu hiện của Nguồn Sống Thiêng liêng Đại đồng.
”86”

Thế là chúng ta cũng có cùng một qui trình – hoạt động trí tuệ, chiêm ngưỡng hay nhập định, hợp nhất và khai ngộ.

Phương pháp của Phật giáo Trung Hoa

Một trong những điều chính yếu đẩy nhanh quá trình giác ngộ là hiểu phương cách mà Đức Phật đã tìm được Ánh sáng. Điều này cho thấy hết sức rõ nét việc sử dụng trí tuệ để giải tán vô minh, và sau đó trí tuệ không còn đủ khả năng đưa hành giả đi vào thế giới Ánh sáng và sự sống tinh thần. Ts. Suzuki, Giáo sư Thiền học tại Trường Cao đẳng Phật học Kyoto, cho chúng ta biết điều đó trong những đoạn văn có sức khai ngộ mạnh mẽ sau đây. Ông nói rằng chính qua “sự toàn giác tối thượng” mà Đức Phật đã đạt đến minh triết, giúp Ngài tiến lên từ trình độ Bồ-tát trở thành một vị Phật. Sự hiểu biết này là [187]”

“... khả năng cả về trí tuệ và tinh thần, được linh hồn vận dụng để vượt qua những trở ngại của hoạt động trí tuệ. Hoạt động này bao giờ cũng có tính nhị nguyên vì nó còn ý thức về chủ thể và khách thể. Tuy nhiên, trong Bát-nhã vốn được thực hiện ‘kết hợp với cái-thấy-chỉ-trong-một-niệm’, không hề có sự phân cách giữa người biết và điều được hiểu biết, mà cả hai đều được nhìn thấy trong một niệm duy nhất, và giác ngộ là kết quả của cái thấy này....”

“Thế nên, chúng ta có thể thấy rằng giác ngộ là một trạng thái tuyệt đối của trí tuệ trong đó không hề có sự ‘phân biệt’..., và cần có nỗ lực trí tuệ rất lớn để nhận thức được trạng thái nhìn mọi sự ‘trong chỉ một niệm’ như đã nói trên. Thực ra, cái ý thức luận lý và thực tiễn của chúng ta đang quá bận bịu với việc phân tích và tạo ra các ý niệm. Nói cách khác, chúng ta chia cắt thực tại thành những phần tử để mong hiểu được. Thế nhưng, khi các phần tử được gom lại với nhau để hợp thành cái toàn thể ban đầu, thì các phần tử trở nên quá rõ nét khiến ta không thấy được cái toàn thể ‘trong một niệm’. Và hành giả chỉ được giác ngộ khi đạt đến ‘một niệm’, một cố gắng cần có để vượt cao hơn cái ý thức tương đối và thực nghiệm thông thường.

“... Thế nên, sự kiện thực tế rất quan trọng ẩn trong cái kinh nghiệm Giác ngộ là Đức Phật đã cố gắng rất nhiều để giải quyết vấn đề Vô minh, và sử dụng năng lực ý chí mạnh mẽ của Ngài để sự phấn đấu này thành công.... Vì thế, muốn “đạt sự giác ngộ hành giả phải vận dụng ý chí cũng như trí tuệ. Đây là một tác động của trực giác do ý chí phát sinh.

... Đức Phật đạt được mục tiêu này khi ánh sáng thấu ngộ mới mẻ đến với Ngài sau bao lần Ngài suy đi ngẫm lại từ sự hư hoại và sự chết đến Vô minh, và từ Vô minh đến hư hoại và sự chết.

.... Thế nhưng, ý chí của Ngài rất kiên cường, không hề khuất phục. Ngài muốn dùng nỗ lực cao tột của ý chí để đạt đến chính sự thực của vấn đề. Ngài gõ cửa và tiếp tục gõ cửa cho đến khi những cánh cửa Vô minh phải bật mở, nhường chỗ cho một viễn cảnh mới mẻ mà tầm nhìn trí tuệ của Ngài trước đó chưa hề đạt đến.”87


“Ở phần trước, ông có nói rằng xét cho cùng việc đạt đến Niết-bàn cốt yếu là nhận thức và khẳng định được Nhất nguyên. Trong bộ luận này ông còn viết : [188]

“Cuối cùng, họ (những người Phật tử) thấy ra rằng Giác ngộ không phải là điều chỉ riêng thuộc về Đức Phật, mà mỗi người trong chúng ta đều có thể đạt được sự giác ngộ nếu người đó loại trừ vô minh bằng cách từ bỏ nhận thức nhị nguyên của mình về cuộc sống và thế giới. Họ cũng kết luận rằng Niết-bàn không phải là tan biến vào một trạng thái tuyệt đối không hiện hữu, vì điều này không thể có khi chúng ta kể đến những sự kiện thực tế trong đời sống. Họ cũng nhận thấy rằng Niết-bàn trong ý nghĩa rốt ráo chính là một sự khẳng định – một sự khẳng định vượt cao hơn mọi điều mâu thuẫn và đối cực.”88”

“Thuật ngữ Bát-nhã được sử dụng ở phần trên là một từ rất thú vị. Nó có nghĩa là một khả năng sẵn có trong mỗi người....

Đây là nguyên khí giúp hành giả có thể đạt được sự Giác ngộ, có trong chúng ta cũng như có trong Đức Phật. Nếu thiếu Bát- nhã sẽ không thể có giác ngộ, vì đây là năng lực tinh thần cao nhất mà chúng ta có được. Hoạt động trí tuệ... chỉ có tính cách tương đối.... Trước khi đạt được Giác ngộ Đức Phật đã là một thường nhân trong vòng sinh tử, và chúng ta, dù hiện là thường nhân trong vòng sinh tử, sẽ thành Phật khi tầm mắt trí tuệ của chúng ta mở ra ”

“trong sự Giác ngộ.”89

Thế nên, trí tuệ được tập trung và sử dụng hết khả năng của nó, và sau đó hoạt động của trí tuệ ngưng lại. Kế đến là ý chí được sử dụng để giữ cho trí tuệ trụ vững trong ánh sáng, và sau đó — hành giả có được Tầm nhìn tinh thần, Sự Khai ngộ, và Giác ngộ!

Phương pháp của Yoga Ấn giáo

Có lẽ, người Ấn giáo đã phân tích quá trình trí tuệ tiến đến Thực tại, và phần việc mà trí tuệ cần thực hiện, một cách rõ ràng hơn bất cứ nhóm tư tưởng gia nào khác. Shankarâchârya nói :
[189]”
Với trí tuệ hoàn hảo, nhà Yogi thấy vạn hữu ở bên trong chính mình (trong ‘Chân ngã’ của chính y, mà không phân biệt giữa cái bên ngoài và cái bên trong). Thế là, nhờ con mắt Hiểu biết (Jđâna-chaksus, nhóm từ này có thể được chuyển dịch khá chính xác là ‘tuệ giác’), y nhận thức (hay đúng hơn là tri thức, không qua suy lý hay biện luận, mà bằng ý thức trực tiếp và ‘đồng ý chấp nhận’ ngay) rằng mọi sự vật đều là biểu lộ cuả âtmâ, tức là Tinh thần Đại đồng hay Linh hồn Tối cao.”

“Nhà Yogi, hay là người đã đạt được sự hợp nhất (vì Yoga là khoa học hợp nhất) thực sự biết được chân tính của chính mình. Khi vô minh nhường chỗ cho ý thức siêu việt, y thấy mình đồng nhất với Brahma, là Nguyên nhân Vĩnh cửu, Đấng Duy nhất và là Đấng Độc nhất. Không còn nghi ngờ gì nữa, y tự biết mình chính là Thượng Đế – Thượng Đế hằng hữu trong tâm chúng sinh và Thượng Đế siêu việt của vũ trụ. Bậc tri kiến được điều này còn cho biết thêm rằng

“Y là ‘Brahma Tối cao, vốn vĩnh cửu, thuần khiết, độc nhất (trong sự hoàn thiện tuyệt đối của Ngài), mãi mãi chứa chan Ân phước, không còn dính mắc vào nhị nguyên, là Nguyên lý (không bị chi phối) của toàn cuộc sống biểu hiện, hiểu biết (không có sự Hiểu biết này tức là có sự phân biệt giữa chủ thể và khách thể, hàm ý trái lại với ‘tính phi nhị nguyên’), và vô chung’.

Y là Brahma, nhờ đó mà muôn loài được soi sáng (và thụ hưởng tinh hoa của Brahma tùy theo mức biểu lộ thực tính của mỗi loài), là Ánh sáng khiến cho mặt trời chói rạng và tất cả các thiên thể phát quang, nhưng không biểu hiện qua ánh sáng của chúng.

“Khi được khai ngộ qua tham thiền.... ‘Cái Ngã’ bừng cháy với lửa Tri thức (nhận biết được rằng trong tinh túy nó vốn đồng nhất với Ánh sáng Tối cao), thoát ly mọi khổ nạn,... và tỏa chiếu trong sự huy hoàng của chính mình như vàng được tinh luyện trong lửa. [190]

“Khi Ngôi Mặt trời Tri thức Tinh thần lên cao trong bầu trời của tâm hồn (tức là ở trung tâm của sự sống...), nó xua tan bóng tối (vô minh đang che án Thực tại tuyệt đối duy nhất), thấm nhuần tất cả, bao trùm tất cả và soi sáng tất cả.
”811”

“Linh mục Maréchal nói

... kinh nghiệm tâm lý mà hành giả có được trong khi chiêm ngưỡng qua hai giai đoạn trí tuệ tập trung và vô thức, như M.OltramaremôtảtheotácphẩmSarvadarsanasangraha:‘Chính trong hai giai đoạn liên tiếp này nhà Yogi tiến tới bằng cách dự kiến điều cơ bản của những kiếp sống tới và xóa mờ những ấn tượng qui định kiếp sống này. Thứ nhất là giai đoạn hữu thức... ; bấy giờ tư tưởng hoàn toàn chuyên chú vào đối tượng thích hợp với nó, và toàn bộ các biến đổi của nguyên khí tư duy đều bị tạm ngưng nếu chúng còn phụ thuộc vào các ngoại vật. Thành quả đạt được theo hình thức này thì hoặc là hữu hình “ không còn đau khổ “ hoặc là vô hình “ tức là sự trực nhận được Sự Sống Thiêng liêng vốn là mục tiêu của tham thiền.... Giai đoạn thứ nhì của Yoga là giai đoạn vô thức... cơ quan tư duy được hòa nhập vào nguồn cội... cảm thức về phàm tính không còn ; chủ thể (hành giả đang tham thiền), đối tượng mà tư tưởng của y trụ vào, và chính hành động tham thiền, đều hòa hợp làm một....”812”

“Patanjali, vị huấn sư cao cả nhất của khoa Yoga trên thế giới, đã tóm lược các giai đoạn cuối này trong Tập sách thứ tư của ông bằng những lời sau đây :

[191] “Trạng thái hợp nhất đơn lập (nhập vào thực tính của Chân ngã) là phần thưởng cho người hành giả có thể “phân biệt được giữa trí tuệ chất và Chân ngã, hay là con người tinh thần. “Hành giả chỉ có thể đạt được trạng thái hợp nhất đơn lập khi ba đặc tính của vật chất (là ba guna hay là ba mãnh lực của thiên nhiên) không còn chi phối Chân ngã. Bấy giờ tâm thức tinh thần thuần khiết nhập vào Đấng Duy nhất.

“Khi trở nên độc lập và không còn bị ràng buộc bởi các đối tượng, sự thông tuệ tinh thần tự phản ánh trong trí tuệ chất, và ý thức được Chân ngã.... Bấy giờ trí tuệ... ngày càng được khai ngộ nhiều hơn...”
813”

“Ở đây chúng ta cũng có cùng ý tưởng. Sử dụng trí tuệ, cuối cùng vượt ra khỏi ý thức của trí tuệ, và nhận thức được sự hợp nhất. Nhận thức này dẫn đến sự khai ngộ liên tục.

Phương pháp của Giáo phái Sufi

Các tác phẩm của người Sufi phần lớn được bao phủ trong lớp màn những hình tượng và các biểu tượng, và có lẽ mang cảm thức nhị nguyên mạnh mẽ hơn là hệ thống nội môn của bất cứ tôn giáo “nào khác, ngoại trừ các tác phẩm thần bí Thiên Chúa giáo. Dù vậy, những tác phẩm này vẫn phát biểu cùng chính chân lý và phương pháp cơ bản nói trên. Những trích dẫn sau đây từ quyển Luận giải cổ xưa nhất của người Ba-tư về giáo lý Sufi sẽ cho thấy điều đó. Điều thú vị là những tác phẩm này đã tồn tại rất lâu đời, tỏ ra hết sức hữu ích, và do các Thức giả biên soạn. Các vị có thể liên hệ kinh nghiệm của mình về thiên tính theo cách có thể đem ra giảng dạy, khái quát hoá, vừa tuyên bố và khẳng định.”

“Bước đầu để tiến đến hợp nhất là loại trừ tính chia rẽ, bởi vì chia rẽ tức là tuyên bố rằng chúng ta đã tách biệt với những gì bất toàn, trong khi đó hợp nhất là nói lên tính duy nhất trong sự vật.... Vì thế, bước đầu để hợp nhất là phủ nhận việc Thượng Đế có phần đối ứng, và loại bỏ việc phối hợp giữa cả hai bên.... [192]

“Có năm nguyên tắc để đi đến hợp nhất : loại trừ bản tính hiện tượng, khẳng định sự vĩnh cửu, từ bỏ những điều chúng ta thường bị ám ảnh, giã từ các huynh đệ của mình, và quên đi những điều đã biết và chưa biết.”


“Loại trừ bản tính hiện tượng tức là phủ nhận việc hiện tượng có liên quan gì đến sự hợp nhất với Thượng Đế, hoặc chúng có khả năng nào đạt đến tinh hoa thánh khiết của Ngài. Khẳng định sự vĩnh cửu có nghĩa là tin chắc rằng Thượng Đế luôn luôn hiện hữu. Từ bỏ những điều chúng ta thường bị ám ảnh, với người sơ cơ, có nghĩa là từ bỏ những thú vui quen thuộc của phàm ngã và những hình thể sắc tướng trong cõi đời này, và đối với người đã tiến hoá cao có nghĩa là từ bỏ những địa vị cao trọng, những trạng thái vinh quang và những phép lạ siêu phàm. Giã từ các huynh đệ của mình có nghĩa là giã từ xã hội loài người và hướng về Thiên giới. Lý do là vì bất cứ tư tưởng nào ngoài Thượng Đế đều chỉ là một lớp màn che và là một sự bất toàn, và khi tư tưởng của con người càng gắn chặt vào những gì khác Thượng Đế thì họ càng bị che án và không thể thấy được Thượng Đế. Nói chung, hợp nhất là tập trung tư tưởng vào Thượng Đế, trong khi hài lòng với những gì khác Thượng Đế là một dấu hiệu cho thấy tư tưởng bị phân tán....”814”

“Chúng ta cũng có những lời sau đây :

“Một trong những Huấn sư Sufi nói : ‘Có bốn điều cần cho người cầu nguyện : loại trừ phàm tính, từ bỏ những quyền năng tự nhiên, thanh khiết ở nơi sâu thẳm của tâm hồn, và chuyên tâm chiêm ngưỡng.’ Việc loại trừ phàm tính chỉ đạt được nhờ tập trung tư tưởng ; hành giả từ bỏ những quyềnnăng tự nhiên thông thường chỉ bằng cách khẳng định Đấng Thượng Đế Thiêng liêng, gồm cả việc loại bỏ tất cả những gì không phải là Thượng Đế ; sự thanh khiết ở nơi sâu thẳm của tâm hồn chỉ có được nhờ tình thương ; và hành giả chỉ có thể chuyên tâm chiêm ngưỡng trong sự thanh khiết ở nơi sâu thẳm của tâm hồn.”815

Những lời này cũng nói lên cùng chân lý như trên.”

Phương pháp của Thiên Chúa giáo

Tất nhiên là rất dễ tìm thấy nhiều đoạn văn nối kết con đường của người Thức giả trong Thiên Chúa giáo với con đường của các huynh đệ của người này ở Đông phương. Những đoạn văn kể trên mang bằng chứng cho thấy rằng các phương pháp đều cùng có hiệu quả như nhau, và cùng sử dụng khả năng trí tuệ đến mức tối đa. Sau đó, hành giả tạm ngưng toàn bộ cố gắng này trong khi một điều kiện sinh hoạt mới được phát khởi, và xảy ra một trạng thái ý thức mới. Thánh Augus- tine nói : “Giống như những gì không thể tả khi người Con thoát thai từ trong lòng của Đấng Cha Lành ở bước đầu nhập thế, cũng có một điều gì đó huyền bí ẩn trong bước đầu nhập thế, trí tuệ và ý chí.” Meister Eckhart tự nhiên kết hợp với các Thức giả Đông phương trong những lời sau :

“Trí tuệ là năng lực cao nhất của linh hồn, nhờ đó mà linh hồn thấu hiểu được sự lành thiện thiêng liêng. Ý chí tự do là năng lực thưởng thức được sự lành thiện thiêng liêng mà linh hồn hiểu được qua trí tuệ. Tia sáng linh hồn là phản ánh nguồn linh quang của Thượng Đế, bao giờ cũng ngưỡng vọng về với Thượng Đế. Có thể nói sự bí ẩn của trí tuệ là toàn bộ những điều lành thiện thiêng liêng và các năng khiếu thiêng liêng ẩn chứa trong tinh hoa sâu kín nhất của linh hồn, như một nguồn suối bất tận của sự lành thiện thiêng liêng.”

“Những quyền năng thấp của linh hồn cần tuân theo mệnh lệnh của các quyền năng cao, và những quyền năng cao của linh hồn cần tuân phục Thượng Đế. Các giác quan bên ngoài của linh hồn cần tuân lệnh các nội giác quan, và những nội giác quan của linh hồn tuân theo lý trí. Tư tưởng tuân theo trực giác, và trực giác cùng tất cả đều hướng về sự hợp nhất. Bấy giờ linh hồn có thể tự đứng vững, không nhận bất cứ điều gì ngoài nguồn sống thiêng liêng toàn vẹn, đang tuôn đổ vào trong chính nó.

“Khi trí tuệ của hành giả không tiếp xúc với bất cứ điều gì, thì chừng đó và chỉ chừng đó nó mới giao tiếp được với Thượng Đế.

“Trong nguồn ân huệ đang lưu nhập lập tức phát sinh ánh sáng của trí tuệ mà Thượng Đế gửi vào đó một tia sáng huy hoàng của Ngài, không hề bị che án. Trong ánh sáng mãnh liệt này, người đang trong vòng sinh tử có thể vượt cao [194] hơn đồng bào của mình, như một người còn sống vốn cao trọng hơn cái bóng của y trên tường.

“Khi đã giao tiếp với linh hồn, hành giả vượt cao hơn phương thức dùng những tình cảm thánh thiện và được trí năng hướng dẫn, thấu đến nguồn cội phát xuất của linh hồn. Ở giai đoạn này, chính trí tuệ cũng bị bỏ bên ngoài cùng với tất cả những sự vật được nó gắn cho tên gọi. Bấy giờ, linh hồn hoà nhập vào trạng thái đơn nhất thuần khiết.
”816”

“Thế là các trường phái lớn của tham thiền trí tuệ (ở các giai đoạn cuối không còn xúc cảm và tình cảm) tất cả đều đưa đến cùng một điểm. Theo quan điểm của Phật giáo, của Ấn giáo, của giáo phái Sufi, và của Thiên Chúa giáo, họ có cùng mục tiêu cơ bản : Hợp nhất với Bản tính Thiêng liêng. Tất cả đều cùng vượt lên khỏi các giác quan, cùng tập trung trí tuệ ở mức cao nhất của nó, cùng thấy rõ rằng qua khỏi mức đó trí tuệ không còn đủ khả năng tiếp tục đưa hành giả tiến đến mục tiêu. Họ cùng đi vào trạng thái nhập định hay là chiêm ngưỡng Thực tại, cùng đồng hoá với Thiên tính, ý thức sự đồng nhất với Thượng Đế (hay Chân như Phật tính), và sau đó là cùng đạt được sự Giác ngộ.

Toàn bộ ý thức chia rẽ đã tan biến. Sự Hợp nhất với “Vũ trụ, nhận thức được Sự Đồng nhất với Toàn thể, ý thức đầy đủ về Chân ngã, và đồng hoá trong tâm thức hoàn toàn tỉnh táo với cả sự sống ở nội tâm và Thiên nhiên ở bên ngoài – đây là mục tiêu xác định của người tìm kiếm sự hiểu biết.

“[195] Hành giả biết rằng cái ngã, cái phi-ngã, và mối quan hệ giữa cả hai, là một sự kiện thực tế, không phân biệt. Y nhận thức rằng Thượng Đế - Đức Chúa Cha, Thượng Đế - Đức Chúa Con và Thượng Đế - Đức Chúa Thánh thần đang cùng hoạt động hài hoà như một Đấng duy nhất. Ba Ngôi trong một Đấng và một Đấng có Ba Ngôi. Đây là mục tiêu của tất cả các trường phái trong đó nhà thần bí vượt lên khỏi xúc cảm, và thậm chí vượt lên khỏi tư tưởng ở mức rốt ráo và trở nên hợp nhất với TẤT CẢ. Tuy nhiên, cá tính vẫn tồn tại trong tâm thức, nhưng được đồng nhất với cái toàn thể đến mức trọn cả ý thức chia rẽ đều tan biến. Không điều gì còn lại ngoài Sự Hợp nhất mà hành giả nhận thức được.”


Excerpt From: Alice A. Bailey - Trân Châu dịch. “Từ trí tuệ đến trực giác.”
« Sửa lần cuối: 05 Tháng Hai, 2017, 09:09:36 AM gửi bởi ChanPhuong »
Bạn chưa đăng nhập