Đạo gia Khí công

Tìm kiếm chi tiết  

Tác giả Chủ đề: Sách của chân sư DK  (Đã xem 2325 lần)

0 Thành viên và 1 Khách đang xem chủ đề.

ChanPhuong

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 672
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Sách của chân sư DK
« Trả lời #30 vào: 29 Tháng Chín, 2017, 23:47:15 PM »

Thử lấy óc phàm để phân tích chút từ manh mối Định luật vạn vật hấp dẫn.

Tham khảo Định luật vạn vật hấp dẫn tại đây:
https://vi.wikipedia.org/wiki/Định_luật_vạn_vật_hấp_dẫn_của_Newton

Lực hút giữa hai vật có khối lượng M và m thể hiện bằng công thức: F=G*M*m/r2

Theo Thuyết tương đối ta lại có: E=mc2

Suy ra: F = G*E1*E2/(r2*c4)

Trong đó: G là hằng số,
               E1 là năng lượng của vật có khối lượng M
               E2 là năng lượng của vật có khối lượng m
               r là khoảng cách giữa hai vật
               c là tốc độ ánh sáng

Kết luận của bài toán: Lực hút giữa hai vật tỷ lệ thuận với năng lượng của chúng và tỷ lệ nghịch với khoảng cách giữa chúng.

Giả sử không gian biến mất tức là r biến mất thì sẽ thế nào nhỉ?
Bạn chưa đăng nhập

ChanPhuong

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 672
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Sách của chân sư DK
« Trả lời #31 vào: 01 Tháng Mười, 2017, 15:13:10 PM »

SỰ TINH LUYỆN CÁC HẠ THỂ.

Ngày 7-11-1920.
Hiện nay đang cần có những khí cụ đã được trắc nghiệm. Khi các Đấng hướng dẫn cuộc tiến hóa nhân loại vào thời gian này để mắt tìm kiếm những khí cụ như thế trong nhân loại, thì các Ngài thấy rằng ít có người nào đủ điều kiện để phụng sự công việc cần thiết. Thế nhưng đồng thời các Ngài cũng thấy một số người, nếu được huấn luyện đến trình độ nhất định, họ sẽ đáp ứng được nhu cầu này khá đầy đủ.
Khi cuộc tiến hóa tiếp diễn, sự phân cực của nhân loại cũng thay đổi. Hiện nay mọi người đang phân cực chính yếu trong thể cảm dục của họ. Những cảm xúc, dục vọng, những mối bận tâm về phàm ngã đang làm cho họ điên đảo, quay cuồng. Thể cảm dục là điểm hội tụ của phàm ngã. Nó là nơi thanh toán tất cả những gì liên quan đến nó và là cầu nối giữa phàm ngã và Chân ngã. Nó giống như một ga xe lửa đầu mối, tấp nập nhận đủ thứ hàng hóa từ bốn phương về và phân phối hết cho thành phố lớn tức là cuộc sống của phàm nhân ở cõi trần. Sau đó, theo đà tiến bộ, hiện trường lại chuyển lên tầm mức cao hơn, và thể trí trở thành tụ điểm. Về sau, thể nguyên nhân trở thành đơn vị quan trọng và sau cùng còn phải hy sinh ngay cả thể này, cho đến khi con người thản nhiên trước tất cả những rung động của ba cõi thấp. Tất cả những gì thuộc về cuộc sống phàm nhân đều đã qua đi, – không còn gì lưu lại, ngoại trừ Sự sống Tinh thần và chí nguyện hiến dâng sự sống đó để giúp đỡ thế gian.

Trong khi đẩy nhanh cuộc tiến hóa, mỗi người phải thực hiện được một số việc trước khi y có thể được dùng như một khí cụ đáng tin cậy, trung thành như thép đã tôi, để giúp đỡ giống nòi. Đừng quên rằng thường thì (khi đã được thử thách và trắc nghiệm) một người trở nên khí cụ thật tốt vì y hoàn [334] toàn thấu hiểu tâm thức của nhân loại, vì y dấn thân giải quyết những vấn đề khó khăn hiện thời một cách thành thạo hơn là một Chân nhân mới tiến những bước đầu. Vì thế mà các Chân sư muốn dùng những ai trong các bạn đang sống ở cõi trần để hàn gắn những vết thương của thế hệ đang đau khổ hiện nay. Vậy thì giờ đây chúng ta phải làm gì? Vấn đề tôi sắp nói đây không có gì là bất bình thường, mà chỉ gồm các tư tưởng để thẩm xét dành cho những người nào muốn trợ giúp. . . . . . . . Trong việc chuẩn bị một linh hồn phụng sự, các vị Hướng đạo nhân loại phải chăm sóc cho từng hạ thể:

– Rèn luyện thể xác.
Việc này gồm một số điều kiện cần thiết: –
Thu nạp vào thể xác vật chất của những cõi phụ cao và loại trừ những chất thô của các cõi phụ thấp. Điều này cần thiết bởi vì người có các thể thô không thể tiếp xúc được với các rung động cao. Chân nhân không thể nào chuyển tri thức và sự hướng dẫn từ cõi cao xuyên qua một thể xác thô kệch. Những dòng tư tưởng cao cả không thể nào ảnh hưởng đến bộ não hồng trần kém tiến hóa. Vì thế mà việc tinh luyện thể xác là điều thiết yếu. Thể xác được ảnh hưởng bằng nhiều lối khác nhau, tất cả đều hợp lý và thực dụng.

Thực phẩm tinh khiết. Đây có nghĩa là ăn chay, chọn lựa thực phẩm với sự phân biện khôn ngoan. Thể xác chỉ cần ăn những thứ rau quả tăng cường sinh lực. Tất cả những điều người đệ tử cần làm là xem xét cẩn thận khi chọn lựa thực phẩm, sáng suốt tránh những thức ăn nặng nề khó tiêu, một ít thức ăn lành và tinh khiết được tiêu hóa hoàn toàn, thế là đủ. Các bạn hỏi đó là những thức ăn nào? Sữa, mật ong, bánh mì lức (làm bằng bột mì lức), tất cả những loại rau trồng ngoài nắng, các loại cam chanh (nhất là cam), chuối, nho khô, những hạt có chất béo, khoai tây, gạo lức, và tôi xin lặp lại là chỉ cần [335] bao nhiêu thứ đó cũng đủ bảo đảm cho sự hoạt động của người đạo sinh.

Sự sạch sẽ. Dùng nhiều nước để gội rửa bên ngoài và bên trong cơ thể, là điều rất cần thiết.

Giấc ngủ. Nên luôn luôn ngủ từ mười giờ đêm đến năm giờ sáng, càng ngủ ngoài trời nhiều càng tốt.

Ánh nắng. Rất cần nên tiếp xúc với ánh nắng mặt trời vì các tia nắng mang lại sinh lực cho cơ thể. Ánh nắng diệt các loại vi trùng và giúp ngăn ngừa bệnh tật.

Khi bốn yêu cầu này được chú tâm thực hiện đầy đủ thì một tiến trình thải trừ rõ rệt sẽ tiếp diễn, và trong vòng vài năm toàn bộ xác thân sẽ từ từ chuyển sự phân cực lên cao hơn để rốt cuộc chúng ta có được một thể xác cấu tạo bằng vật chất của cõi phụ nguyên tử. . . . . . Việc này có thể cần nhiều kiếp sống, nhưng các bạn nên nhớ rằng cứ mỗi lần đầu thai lại thì mỗi thể vẫn giữ đúng y phẩm chất (xin tạm gọi như thế) của cơ thể trước kia đã bị thải bỏ khi chết. Vì vậy, thời gian dùng để kiến tạo không hề bị mất. Cuối cùng còn có hai phương pháp khác có thể dùng để tinh luyện mau có hiệu quả hơn:

– Dùng ánh sáng màu. Những loại ánh sáng này được chiếu vào cơ thể của người đệ tử, tạo tiến trình thải bỏ tạp chất và đồng thời kích thích các nguyên tử. Việc này chỉ có thể được thực hiện khi có thêm kiến thức về các Cung. Khi đã biết được cung của hành giả thì có thể kích thích y bằng cách dùng màu sắc của chính y, dùng màu bổ túc của y để thu nạp những chất mới, và dùng màu tương khắc để thải bỏ những chất bất hảo. Về sau sự hiểu biết này sẽ được truyền đạt cho những đoàn thể lớn có phận sự giữ gìn các [336] Bí nhiệm, là Giáo hội và các Hội Tam điểm. Các bạn hãy chờ đợi, vì chưa đến lúc. Khi các Bí nhiệm được phục hồi thì một số kiến thức loại này sẽ được giao cho hai đoàn thể vừa kể.

Sự kích thích bằng âm nhạc. Một số âm thanh có thể làm tan rã và đổ vỡ. Một số âm thanh khác lại kích thích và hấp dẫn. Khi biết được âm khóa của cuộc sống hành giả, biết được âm thanh mà y ứng đáp, thì có thể dùng âm thanh để tinh luyện. Hiện nay, tất cả những gì người phụng sự có thể làm là chú tâm vào những điều chính yếu nói trên và tìm cách tiếp xúc với những rung động thanh cao.

Tôi muốn nói thêm một điểm nữa là sự vận dụng điện lực có ẩn bí quyết làm sinh động các thể, đặc biệt là đối với thể dĩ thái hiện nay. Công dụng chính của mặt trời là làm sinh động thể dĩ thái. Sức nóng của mặt trời là điện lực đã được chuyển hóa thích ứng cho nhu cầu của đại đa số các sinh vật trung bình trong mọi giới của thiên nhiên. Khi người đạo sinh càng tiến bộ thì mãnh lực này càng được tăng cường theo từng trường hợp cá nhân. Đây cũng là một bí mật điểm đạo. Ngày xưa, Điểm đạo Thần trượng thực sự có tác dụng như vật truyền dẫn mãnh lực này vào các luân xa của điểm đạo đồ. Vì thế Thần trượng phải được cấu tạo cách nào để đáp ứng được mục đích này. Hiện nay, nhân loại đang ở trên vòng tiến hóa cao hơn. Thế nên, muốn phục vụ chính nhu cầu và mục đích đó thì cần phải đổi khác phương pháp áp dụng, vì sự phân cực của nhân loại đã thay đổi. Hiện nay sự phân cực không còn ở thể xác nữa mà ở thể tình cảm hay thể trí. Phương pháp áp dụng cho mỗi thể đều khác nhau, nên phải bảo toàn sự bí mật này và giữ kín điều bí nhiệm. [337]

Tinh luyện thể dĩ thái.
Việc thanh lọc này trùng hợp với việc thanh lọc thể xác. Phương pháp chính yếu là sinh hoạt trong ánh nắng, giữ cơ thể cho khỏi lạnh, và uống vài loại sinh tố tổng hợp mà chẳng bao lâu nữa sẽ được đưa ra cho nhân loại dùng. Sẽ có công thức kết hợp các loại sinh tố này chế thành viên thuốc với tác dụng trực tiếp vào thể dĩ thái. Việc này chỉ có được khi khoa học thừa nhận thể dĩ thái và đưa nó vào chương trình huấn luyện của y khoa. Rồi đây việc nghiên cứu các bệnh thể dĩ thái (chứng suy nhược và bế tắc) sẽ được thừa nhận, và sẽ đưa đến các công thức và những cách trị liệu đích xác. Như trước tôi đã nói, tất cả những gì hiện nay bạn có thể làm cho thể hồng trần nhị phân (thể xác và thể dĩ thái) trở nên nhạy bén là theo đúng các qui luật trên, và để cho thời gian hoàn tất những gì còn lại.

Tinh luyện thể tình cảm.
Với thể này cách tiến hành lại khác. Thể tình cảm chỉ là một tấm gương phản chiếu rất quan trọng. Nó thu nhận màu sắc và hoạt động của môi trường xung quanh. Nó nhận ấn tượng của mỗi dục vọng thoáng qua. Nó tiếp xúc với mọi diễn biến và đột biến của hoàn cảnh. Mỗi dòng năng lực đều làm cho nó chuyển động. Mỗi âm thanh đều làm cho nó dao động, trừ khi người chí nguyện ngăn cản các tình trạng này và huấn luyện nó chỉ thu và ghi nhận những ấn tượng đến từ cõi bồ-đề xuyên qua Chân ngã, và vì thế mà thông qua cõi phụ nguyên tử. Do đó mục tiêu của người chí nguyện là huấn luyện sao cho thể tình cảm trở nên yên lặng và trong sáng như một tấm gương, để nó có thể phản chiếu một cách hoàn hảo. Y nên làm thế nào để nó chỉ phản ánh thể nguyên nhân, chỉ biểu lộ những màu sắc phù hợp với Đại luật, chỉ vận chuyển theo một chiều hướng xác định, chứ không nổi [338] lên những luồng gió của tư tưởng, hay những triều sóng của dục vọng. Nên dùng những từ ngữ nào để diễn tả thể tình cảm? Đó là những từ: an tĩnh, trong lành, trầm tĩnh, yên lặng, bình ổn, trong suốt và trong sáng, có tính phản chiếu như tấm gương, có bề mặt phẳng lặng, vật phản chiếu trong trẻo, – là trạm truyền chuyển chính xác những mong muốn, ước vọng, nguyện vọng của Chân nhân chứ không phải của phàm nhân. Làm sao thực hiện được điều này? Có nhiều cách, một số về phần người chí nguyện, và một số về phần Chân sư.
a. Thường xuyên trông chừng mọi sự ham muốn, động lực nội tâm, và ước vọng nổi lên hàng ngày trong tâm thức, và sau đó chú trọng vào những gì cao cả và chế ngự những gì thấp hèn.
b. Hằng ngày liên tục cố gắng giao tiếp với Chân nhân, phản ánh ước muốn của Chân nhân trong cuộc sống. Lúc đầu sẽ có nhầm lẫn, nhưng từng bước việc kiến tạo bằng những chất thanh được tiến hành và sự phân cực trong thể tình cảm chuyển dần lên từng cõi phụ cho đến khi đạt đến cõi phụ nguyên tử.
c. Hằng ngày dùng những thời khoảng nhất định để bình ổn thể tình cảm. Chúng ta đã chú trọng nhiều đến việc định trí trong tham thiền, nhưng các bạn nên nhớ rằng việc ổn định cảm dục tính là bước đầu của định trí. Bước này nối tiếp bước kia, nên người khôn ngoan thì bắt đầu leo thang từ bậc thấp nhất. Mỗi người chí nguyện phải tự khám phá ra trong trường hợp nào y dễ nhượng bộ nhất cho những rung động mãnh liệt như là sợ hãi, lo âu, một loại dục vọng nào đó của phàm ngã, tình thương của phàm nhân đối với một người hay vật nào, sự nản lòng, hoặc quá dễ bị dư luận lung lạc. Rồi y phải khắc phục sự rung động đó bằng cách áp đặt lên đó một nhịp điệu mới có tính loại trừ và kiến tạo rõ rệt. [339]
d. Công việc thực hiện trên thể tình cảm trong giấc ngủ ban đêm, với sự hướng dẫn của những Chân nhân tiến hóa hơn, dưới sự chỉ đạo của Chân sư. Kích thích một sự rung động hay loại bỏ một sự rung động đều nhờ việc áp dụng những màu sắc và âm thanh nhất định. Riêng trong thời gian này, có hai màu đang được áp dụng cho nhiều người với mục đích cụ thể nhằm kích thích luân xa cổ họng, và luân xa đỉnh đầu, đó là màu tím và màu vàng chói (violet and gold).
Các bạn nên nhớ rằng công việc phải tiến hành tuần tự. Khi sự phân cực chuyển lên cao thì lúc chuyển tiếp từ cõi phụ này lên cõi phụ khác được đánh dấu bằng một số cuộc trắc nghiệm áp dụng trong giấc ngủ ban đêm, gọi là một loạt các cuộc điểm đạo nhỏ. Cuối cùng sẽ tổng kết thành cuộc điểm đạo lớn thứ hai, đánh dấu mức hoàn toàn kiểm soát thể tình cảm.
Bốn cuộc điểm đạo nhỏ sẽ thành tựu trong chính cuộc điểm đạo lớn này. Đây là những cuộc điểm đạo trên cõi tình cảm được gọi theo thứ tự là các cuộc điểm đạo của đất, lửa, nước và không khí. Chúng đến mức viên mãn trong cuộc điểm đạo lớn thứ hai. Cuộc điểm đạo thứ nhất đánh dấu mức thành đạt tương tự ở cõi hồng trần. Mỗi cuộc điểm đạo đánh dấu sự đạt được một tỉ lệ vật chất nguyên tử nhất định trong các thể. Bốn cuộc điểm đạo trước quả vị Chân sư lần lượt đánh dấu tỉ lệ đạt được, ví dụ như: – Lần điểm đạo thứ nhất đạt một phần tư vật chất nguyên tử, lần thứ hai đạt một nửa số lượng vật chất nguyên tử và cứ thế cho đến mức hoàn toàn. Trực giác (hay bồ-đề) là nguyên khí thống nhất nên nó kết hợp tất cả. Vào cuộc điểm đạo thứ tư các hạ thể bị loại bỏ, vị Chân sư ở trong thể trực giác và từ đó tạo ra thể biểu hiện của Ngài. [340]

Tinh luyện thể trí.
Đây là kết quả của một công trình khó nhọc và sự phân biện. Cần phải làm được ba điều trước khi đạt đến cõi của hạ trí và trước khi đạt được tâm thức của thể nguyên nhân (tâm thức đầy đủ của Chân nhân): –
Suy tư sáng tỏ, không chỉ trong những vấn đề làm các bạn hứng thú, mà trong tất cả các vấn đề có ảnh hưởng đến nhân loại. Nó gồm sự kiến tạo bằng chất liệu tư tưởng một cách chính xác, minh bạch, và khả năng định nghĩa. Tức là khả năng dùng chất liệu tư tưởng để tạo hình tư tưởng, và sử dụng các hình tư tưởng đó để giúp đỡ công chúng. Người nào không thể suy tư sáng tỏ, có thể trí kém phát triển đều đang sống trong sương mù, và người ở trong sương mù thì chỉ là kẻ tối mắt lãnh đạo những người mù.
Khả năng định trí, nhờ đó mà các tư tưởng từ cấp độ trừu tượng và từ cõi trực giác có được một bức màn thụ cảm để ghi ấn tượng lên đó. Vấn đề này đã được giải rõ trong nhiều sách nói về định trí và tham thiền, nên tôi không cần phải nói rõ hơn. Đây là kết quả của công phu thực hành khó nhọc trong nhiều năm trường.
Một tiến trình rõ rệt do Chân sư thực hiện, có sự đồng ý của người đệ tử, để kết hợp những nỗ lực và những kết quả đạt được một cách khó nhọc trong nhiều năm thành một thể cách trường cửu. Vào mỗi lần điểm đạo, điện lực hay từ lực được áp dụng đều có hiệu quả ổn cố. Nó làm cho những kết quả mà người đệ tử đã đạt được trở nên bền bỉ. Như người thợ làm đồ gốm đúc và nắn đất sét rồi dùng lửa nung cứng, người chí nguyện cũng nắn, đúc, kiến tạo và chuẩn bị để lửa thiêu cho cứng rắn. Cuộc điểm đạo đánh dấu một mức thành đạt trường cửu và phát khởi một chu kỳ cố gắng mới.
Trên hết mọi sự, nên chú trọng đến hai điều: –
[341]
1. Sự kiên trì bền bỉ không hề lay chuyển, không quản gì thời gian lâu dài và chướng ngại mà cứ tiếp tục đi tới mãi. Khả năng kiên trì này cho thấy tại sao lắm khi một người không có gì đặc biệt lại được điểm đạo trước bậc siêu tài, và trước những người nổi bật hơn y. Khả năng làm việc cần mẫn siêng năng là điều rất đáng nên mong muốn.
2. Chỉ có tiến bộ khi không còn tự phân tích quá đáng. Bạn đừng tự nhổ cả gốc rễ mình lên để xem có tăng trưởng hay chăng. Làm thế chỉ mất thời gian quí báu. Hãy quên đi sự tiến bộ của bạn trong việc tuân thủ các qui luật và trong sự giúp đỡ người khác. Khi làm được như vậy, ánh sáng giác ngộ có thể đến bất ngờ và bạn chợt nhận thức được rằng đã đến lúc Đấng Đại giác có thể gọi bạn đến trước Ngài để giúp bạn được điểm đạo. Nhờ công khó, nhờ tuân thủ Định luật một cách đúng đắn và yêu thương tất cả mọi người, mọi vật, bạn đã thu được những chất liệu tinh anh để kiến tạo các thể, khiến bạn có thể đứng trước Ngài. Luật Hấp dẫn vĩ đại đưa bạn về với Ngài, và không có gì ngăn cản được.[342]
Bạn chưa đăng nhập

ChanPhuong

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 672
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Sách của chân sư DK
« Trả lời #32 vào: 13 Tháng Một, 2018, 23:43:14 PM »

SỰ HIỂN LỘ CỦA THÁNH ĐOÀN (THE EXTERNALISATION OF THE HIERARCHY) - ALICE A. BAILEY

TIẾT MỘT
GIAI ĐOẠN CHUYỂN TIẾP (THE PERIOD OF TRANSITION)

Tháng 3– 1934

Một trong các kết quả của tình hình trên thế giới ngày nay là gia tốc mọi sự sống nguyên tử ở trên và bên trong hành tinh. Tất nhiên điều này bao hàm hoạt động rung động ngày càng tăng của cơ thể con người, với hậu quả tất nhiên trên bản chất tâm thông là tạo ra nhạy bén khác thường và ý thức tâm linh. Nhân đây, cũng là việc hữu ích mà nhớ lại rằng tình trạng con người hiện nay không phải là kết quả của chỉ một yếu tố duy nhất, mà là của nhiều yếu tố – tất cả các yếu tố đó đều linh hoạt cùng một lúc, bởi vì giai đoạn này đánh dấu việc kết thúc một kỷ nguyên và khai mở kỷ nguyên mới.
Trước tiên, các yếu tố mà tôi đề cập đến, gồm có ba loại:

1.  Đây là giai đoạn chuyển tiếp giữa việc kết thúc Kỷ Nguyên Song Ngư (nhấn mạnh vào uy quyền và niềm tin) với việc ra đời của Kỷ Nguyên Bảo Bình (nhấn mạnh vào sự cảm thông cá nhân và hiểu biết trực tiếp). Hoạt động của các lực này, tiêu biểu cho hai cung hoàng đạo, tạo ra trong các nguyên tử của cơ thể con người một hoạt động tương ứng. Chúng ta sắp có các kiến thức mới mẻ với các nguyên tử của xác thân được điều chỉnh để tiếp nhận. Các nguyên tử vốn có ưu thế của cung Song Ngư này, đang bắt đầu giảm bớt hoạt động và được “triệt thoái về mặt huyền linh” (“occultly withdrawn”), như thường gọi, hay trừu xuất, trong khi những người đáp ứng với các khuynh hướng của Kỷ Nguyên Mới, đến phiên họ, được kích động và hoạt động rung động của họ được tăng lên. [4] 

2. Cuộc thế chiến đã đánh dấu một cao điểm (climax) trong lịch sử nhân loại, và hậu quả chủ quan của nó lại mạnh mẽ hơn là theo người ta hiểu từ trước đến giờ. Qua sức mạnh của dư âm kéo dài diễn ra như một kinh nghiệm lớn lao ở các chiến trường trên khắp thế giới trong khoảng bốn năm (1914– 1918) và qua sự căng thẳng tình cảm dữ dội của toàn thể nhân loại trên hành tinh, mạng lưới bằng chất dĩ thái (được gọi là “tấm màn che thánh điện”) đang ngăn cách cõi trần với cõi cảm dục, bị xé rách hay tơi tả ra và tiến trình gây sửng sốt để kết hợp hai thế giới của cách sinh hoạt ở cõi trần và của kinh nghiệm cõi cảm dục đã bắt đầu và hiện đang từ từ tiến triển. Do đó, hiển nhiên là điều này phải mang lại các thay đổi rộng lớn và các biến đổi to tát trong ý thức con người. Trong khi điều đó sẽ báo trước kỷ nguyên của hiểu biết, của tình huynh đệ và của sự giác ngộ, nó cũng sẽ mang lại các tình trạng phản ứng và thả lỏng các sức mạnh tâm thông mà ngày nay đang đe doạ kẻ thiếu kiềm chế và thiếu hiểu biết, đồng thời biện minh cho việc gióng lên một âm thanh báo động và đề phòng.

3. Nhân tố thứ ba như sau. Trong một thời gian dài, nhân tố này được các nhà thần bí thuộc mọi tôn giáo trên thế gian và các đạo sinh huyền bí học ở khắp nơi nhận biết, đó là một vài thành viên của Thánh Đoàn Hành Tinh đang tiến tới gần hơn cõi trần vào lúc này. Với câu này tôi muốn bạn suy đoán rằng tư tưởng hay sự chú tâm bằng thể trí (mental attention) của Đức Christ và của một vài đệ tử cao cấp của Ngài, tức các Chân Sư Minh Triết, vào lúc này được hướng đến hay được tập trung vào các sự việc của nhân loại, và một số trong các Ngài cũng đang chuẩn bị để phá vỡ sự im lặng lâu nay của các Ngài và có thể sau này xuất hiện trong nhân loại. Tất nhiên điều này có một hiệu quả mạnh mẽ, trước tiên là nơi các đệ tử của các Ngài và nơi những người đã được chỉnh hợp và làm cho đồng bộ với Thể Trí của các Ngài, và hai là, nên nhớ rằng năng lượng đang tuôn đổ qua các điểm hội tụ của Thiên Ý này sẽ có một hiệu quả song hành: có tính huỷ diệt cũng như kiến tạo, tuỳ theo tính chất của các thể đang phản ứng vào nó. Các mẫu người khác nhau đáp ứng một cách khác nhau với bất cứ luồng năng lượng nào đang chảy vào, và một sự kích thích tâm linh mạnh mẽ đang xảy ra vào lúc này, với các kết quả, có lợi về mặt thiêng liêng lẫn bất lợi về mặt huỷ diệt. [5] 

Cũng có thể nói thêm rằng một vài mối liên hệ về mặt thiên tượng giữa các chòm sao đang phóng rải các loại mãnh lực mới, hiện tác động qua thái dương hệ chúng ta và lên trên hành tinh chúng ta nhờ thế có thể tạo ra các khai mở mà từ trước đến giờ không thể biểu hiện ra được và đang mang lại bằng chứng về các sức mạnh tiềm tàng và biểu hiện của các kiến thức mới mẻ. Tất cả mọi điều này phải được những người hoạt động trong lãnh vực nhân sự (human affairs) ghi nhớ cẩn thận, nếu cuộc khủng hoảng hiện nay được đánh giá đúng và các cơ may tuyệt vời của nó được vận dụng đúng lúc. Theo tôi, thật là điều hay khi đưa ra một số sự việc liên quan đến tình hình trên thế giới hiện nay, nhất là liên quan đến các nhóm huyền bí, huyền linh và thần bí (esoteric, occult and mystical groups) và phong trào tâm linh.

Hiện nay, mọi tư tưởng gia và các nhà hoạt động trong lãnh vực tâm linh chân chính đều quan tâm đến sự gia tăng tội ác về mọi mặt, bởi việc phô bày (display) các khả năng tâm thông hạ đẳng, bởi việc hư hỏng rõ rệt của thể xác, như đã thấy trong việc lan tràn bệnh hoạn, và bởi sự tăng lên dữ dội về bệnh tâm thần (insanity), các bệnh loạn thần kinh (neurotic conditions) và quẩn trí (mental unbalance). Tất cả đều do kết quả của việc thủng mạng lưới bảo vệ hành tinh (the tearing of the planetary web), đồng thời đó là một phần của cơ tiến hoá (evolutionary plan) và đưa tới cơ hội để nhờ đó nhân loại có thể đi đến giai đoạn tiến hoá kế tiếp. Thánh Đoàn các Chân Sư (Hierarchy of Adepts) đã có các ý kiến phân hoá (nếu một từ ngữ không thích hợp như thế có thể được dùng cho một nhóm các linh hồn và các huynh đệ không hề biết đến ý thức chia rẽ, mà chỉ khác nhau về vấn đề “khéo léo trong hành động” (“skill in action”), về tình hình thế giới hiện nay. Một vài vị cho rằng việc đó còn sớm và tất nhiên là không thích hợp và đưa tới một tình thế khó khăn, trong khi các vị khác đưa ra quan điểm của các Ngài dựa vào bản chất tốt lành (soundness) của nhân loại và xem cuộc khủng hoảng hiện nay như là tất nhiên và xảy ra bởi sự phát triển trong chính con người; các Ngài nhìn thấy tình trạng như là có tính giáo dục và chỉ tạo ra khó khăn tạm thời mà – khi điều đó được giải quyết – sẽ đưa nhân loại tiến trên con đường có một tương lai còn huy hoàng hơn nhiều. Nhưng đồng thời cũng công nhận sự thật rằng các mãnh lực lớn lao và thường gây tàn phá đã không còn được kiềm chế trên cõi trần nữa và hậu quả là gây nên sự chết chóc có liên quan đến tất cả các Chân Sư, đệ tử của các Ngài và những người hành đạo (workers). [6] 

Nói chung, nỗi khó khăn có thể được truy nguyên ra là do quá bị kích thích và sự căng thẳng quá mức nơi các bộ phận của xác thân, mà giới linh hồn (đang nhập thế) phải sử dụng khi linh hồn tìm cách biểu lộ trên cõi trần và nhờ đó đáp ứng với môi trường chung quanh. Dòng năng lượng tuôn đổ từ cõi cảm dục và (với một mức độ ít hơn) từ cõi hạ trí, lập được mối liên lạc với các thể mà đầu tiên không đáp ứng, và sau đó lại đáp ứng quá mức; nó tuôn đổ vào các tế bào não bộ, mà do thiếu sử dụng, nên không quen với nhịp điệu mạnh mẽ được áp đặt lên chúng; còn dụng cụ hiểu biết của con người thì kém cỏi đến đỗi đa số con người không có đủ nhận thức để tiến hành một cách thận trọng và tiến tới một cách từ từ. Do đó, chẳng bao lâu nữa họ sẽ gặp nguy hiểm và khó khăn; bản chất của họ thường kém tinh khiết hay là đầy ích kỷ đến nỗi các khả năng mới – vốn đang bắt đầu hiện ra, và như thế mở ra các con đường hiểu biết và giao tiếp mới – lại lệ thuộc vào các mục đích hoàn toàn ích kỷ và bán rẻ cho các mục đích trần tục. Những linh thị thoáng hiện được ban cho con người về những gì ẩn sau bức màn che giấu bị giải thích sai, còn thông tin thu lượm được bị lạm dụng và bị làm lệch lạc bởi các động lực sai lầm. Nhưng dù cho một người vô tình là nạn nhân của mãnh lực hay là tự mình tiếp xúc với mãnh lực đó một cách cố ý, y cũng phải trả giá cho sự thiếu hiểu biết hay sự liều lĩnh của mình trong xác thân, cho dù linh hồn của y có thể “tiến tới được”.

Hiện nay, không có ích gì mà nhắm mắt trước vấn đề kề cận hay cố đổ lỗi cho các thất bại đáng buồn, các suy sụp huyền linh, cho các nhà tâm thông nửa tỉnh nửa mê, những nhà thần bí bị ảo giác và những kẻ thiểu trí không chuyên về huyền bí học, do thiếu sáng suốt, hay là đổ thừa cho một số đạo sư, các nhóm hay các tổ chức. Nhiều sự phiền trách có thể thực sự được nhận ra khắp mọi nơi, nhưng cần nên sáng suốt đối phó với các sự kiện và hiểu được nguyên nhân của những gì đang tiết lộ ở mọi nơi vốn có thể được nói như sau:

Nguyên nhân sự phát triển của tâm thông bậc thấp và của sự nhạy cảm ngày càng tăng của nhân loại vào lúc này là dòng chảy vào không đoán trước được của một hình thức năng lượng cảm dục mới mẻ xuyên qua bức màn bị xé rách, mà cách đây một thời gian ngắn đã bảo vệ an toàn cho nhiều [7] người. Thêm vào đó, một số lớn các hiện thể của con người thiếu đáp ứng với sự căng thẳng mới được đặt ra và một số ý tưởng của vấn đề có thể được hiểu rõ.

Tuy nhiên đừng quên rằng có một khía cạnh khác cần minh hoạ. Dòng năng lượng lưu nhập này đã đưa hàng trăm người vào một nhận thức tâm linh mới mẻ và sâu xa hơn; nó đã mở ra một cánh cửa mà nhiều người không bao lâu nữa sẽ đi qua và được điểm đạo lần hai và nó để cho một dòng ánh sáng tuôn vào thế gian – một ánh sáng sẽ tiếp tục ngày càng tăng trong vòng ba mươi năm tới ([1]), mang lại đảm bảo cho tính bất tử và một thiên khải mới về các tiềm lực thiêng liêng trong con người. Kỷ Nguyên Mới đang ló dạng như thế đó. Cơ hội đưa đến các mức độ hứng cảm mà từ trước đến giờ chưa được tiếp cận, đã trở nên dễ dàng. Việc kích thích các quan năng cao siêu (và ở một mức độ rộng lớn) hiện giờ có thể xảy ra, việc phối kết của phàm ngã với linh hồn và việc sử dụng đúng năng lượng có thể diễn tiến với sự hiểu biết và hoạch định mới mẻ hơn. Bao giờ nhân loại cũng phải kiên trì và luôn luôn có nhiều người được kêu gọi, còn ít người được tuyển chọn. Đây là định luật huyền linh.

Hiện nay chúng ta đang ở trong giai đoạn có tiềm lực tâm linh mạnh mẽ và có cơ may cho tất cả những ai ở trên con đường dự bị và con đường đệ tử. Đó là thời điểm mà tiếng gọi hào hùng được đưa ra cho con người với sự cổ vũ nhiệt liệt và với thiện chí, vì sự giải thoát sắp xảy ra. Nhưng đó cũng là thời điểm nguy hiểm và đầy thảm hoạ cho kẻ bất cẩn và kẻ chưa sẵn sàng, cho kẻ nhiều tham vọng, kẻ vô minh và cho những ai đi tìm Thánh Đạo với lòng ích kỷ và không muốn bước lên con đường phụng sự với động lực trong sạch. E rằng sự đảo lộn rộng lớn này và tai hoạ phải đến với rất nhiều người dường như bất công đối với bạn, tôi xin nhắc các bạn rằng cuộc sống duy nhất này chỉ là một thời gian ngắn ngủi trong cuộc sống rộng lớn và to tát hơn của linh hồn và rằng những ai thất bại và bị gián đoạn bởi ảnh hưởng của các mãnh lực mạnh mẽ hiện giờ đang tràn ngập địa cầu, tuy vậy, mức độ rung động của họ sẽ được “cải tiến” (“stepped up”) ngõ hầu sửa đổi được nhiều điều theo kịp với số đông người thành đạt, cho dù trong tiến trình đó, thể xác của họ có thể bị huỷ diệt đi chăng nữa. Việc huỷ diệt thể xác không phải là tai hoạ tệ hại nhất mà con người có thể phải chịu.

Mục đích của tôi không phải là đề cập đến toàn thể lãnh vực có thể có liên quan đến tình trạng trong lãnh vực tâm [8] thông do dòng lưu nhập (inflow) của năng lượng cảm dục tạo ra vào lúc này. Tôi tìm cách tự giới hạn vào hiệu quả của dòng lưu nhập này trên những người tìm đạo và những người nhạy cảm. Hai từ ngữ này – người tìm đạo và người nhạy cảm – được tôi dùng trong mục này để phân biệt hạng người tìm kiếm đã giác ngộ bất chấp sự kiềm hãm và khống chế của hạng người tâm thông bậc thấp, những người mà từ lâu đã kiềm hãm và khống chế. Ở đây cần nhắc nhở bạn rằng năng lực tâm thông, như thường gọi, có thể được chia thành hai nhóm như sau :

Tâm thông cao (Higher Psychism)                       Tâm thông thấp (Lower Psychism)   
Thiêng liêng (Divine)                                          Động vật (Animal)
Kiểm soát được (Controlled)                                Không kiểm soát được (Uncontrolled)
Tích cực (Positive)                                              Tiêu cực (Negative)
Được sáng suốt áp dụng (Intelligently applied)     Mang tính tự động (Automatic)
Tính trung gian (Mediastorship)                           Tính đồng cốt (Mediumship)       

Ít người hiểu được các dị biệt này, cũng như không lượng định được rằng cả hai nhóm tính chất đều cho thấy thiên tính của chúng ta. Tất cả đều là các biểu hiện của Thượng Đế.

Có một số năng lực tâm thông mà con người chia sẻ chung với con vật; các năng lực này có sẵn trong cơ thể động vật và có tính chất bản năng, nhưng đối với một số lớn loài vật, chúng lại rơi xuống dưới ngưỡng ý thức và không được hiểu rõ, do đó trở thành vô dụng. Thí dụ, đó là các năng lực như nhãn thông và nhĩ thông thuộc cõi cảm dục (astral clairvoyance and clairaudience) và nhìn thấy được các màu sắc và các hiện tượng tương tự. Nhãn thông và nhĩ thông cũng có thể có trên cõi trí và bấy giờ chúng ta có thể gọi đó là viễn cảm (telepathy) và thấy được các biểu tượng, vì mọi tưởng tượng về các hình của hình học đều là nhãn thông cõi trí. Tuy nhiên, tất cả các khả năng này đều được ràng buộc với cơ thể con người hay là bộ máy đáp ứng, và dùng để cho con người tiếp xúc với các trạng thái của cõi hiện tượng, nhờ có bộ phận máy đáp ứng (response mechanism) này (mà chúng ta gọi là phàm ngã) con người mới tồn tại được. Chúng là sản phẩm của sự hoạt động của hồn thiêng (divine soul) trong con người, đang khoác hình thức của cái mà chúng ta gọi là “sinh hồn”([2]) (“animal soul”), vốn thực sự đáp ứng với ngôi Thánh Thần (Holy Ghost aspect) trong Tam Thượng Thể của tiểu vũ trụ con người. Tất cả các quyền năng này đều có các tương ứng tâm linh cao của chúng, các tương ứng này chỉ [9]hiện ra khi linh hồn trở nên linh hoạt một cách có ý thức và kiểm soát được bộ máy của mình qua thể trí và bộ não. Khi nhãn thông và nhĩ thông cõi cảm dục không còn ở dưới ngưỡng của ý thức, mà được sử dụng và vận hành một cách linh hoạt, điều đó có nghĩa là bí huyệt nhật tùng ([3]) được khai mở và linh hoạt. Khi có năng lực trí tuệ tương ứng trong ý thức, thì bấy giờ điều đó hàm ý rằng bí huyệt cổ họng và bí huyệt giữa hai mày đều đang trở nên “thức tỉnh” và linh hoạt. Nhưng các năng lực tâm thông cao hơn, như là tri giác tinh thần (Spiritual perception) cùng với sự hiểu biết không thể sai lầm của nó, tức trực giác với phán đoán không còn lầm lạc của nó, và khoa trắc tâm (psychometry) thuộc loại cao siêu với năng lực khám phá quá khứ và tương lai của nó, đều là các đặc quyền của hồn thiêng. Các năng lực cao siêu này sẽ xuất hiện khi bí huyệt đầu, bí huyệt tim, cũng như bí huyệt cổ họng bắt đầu hoạt động do kết quả của việc tham thiền và phụng sự. Tuy nhiên, đạo sinh nên ghi nhớ hai điều:

Ấy là cái lớn luôn luôn bao gồm cái nhỏ, nhưng tâm thông thuần tuý động vật không bao hàm tâm thông cao.

Giữa trạng thái trung gian thụ động (negative medium– ship) loại thấp nhất với loại cao nhất của vị huấn sư và kẻ có nhãn thông (seen) được linh hứng có một cách biệt rất nhiều về mức độ và điều đó là do các bí huyệt phát triển không đồng đều trong nhân loại.

Sự phức tạp của vấn đề rất lớn, nhưng tình hình chung có thể hiểu được, ý nghĩa của cơ may được đưa ra có thể hiểu được, và việc sử dụng đúng kiến thức được dùng để đưa kẻ thánh thiện ra khỏi giai đoạn khẩn trương hiện nay, và như vậy sự tăng trưởng về tâm thông và tâm linh của con người được bảo dưỡng và duy trì.

Tôi tin vào lúc này có hai câu hỏi sẽ thu hút sự chú tâm của tất cả những kẻ phụng sự trong lãnh vực huyền bí học và những kẻ đang tham dự vào việc dạy dỗ các đạo sinh và những người tìm đạo.
I.        Chúng ta sẽ luyện tập những kẻ nhạy cảm và những người có tâm thông như thế nào để cho họ có thể tránh được những nguy hiểm và nhân loại có thể an toàn tiến tới cái di sản mới mẻ và huy hoàng của họ? [10]
II. Làm thế nào các trường phái nội môn hay là “các giới luật“ (disciplines) như đôi khi được gọi thế, vận dụng đúng cơ hội ?






« Sửa lần cuối: 14 Tháng Một, 2018, 00:27:22 AM gửi bởi ChanPhuong »
Bạn chưa đăng nhập

ChanPhuong

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 672
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Sách của chân sư DK
« Trả lời #33 vào: 14 Tháng Một, 2018, 00:26:44 AM »

(tiếp theo phần mở đầu của cuốn sách "Sự hiển lộ của Thánh Đoàn" mình mới dán vào ở bên trên, trích đoạn sau đây là đoạn rất hay tiết lộ từ Chân sư DK về các đấng hoá thân đến Trái Đất, ace tham khảo, mình đang tìm cách đính kèm theo file sách prc lên forum mà chưa biết cách)

--------------------

TIẾT BA  
CÁC MÃNH LỰC ĐÀNG SAU DIỄN TRÌNH TIẾN HÓA CỦA NHÂN LOẠI GIÁO LÝ VỀ CÁC ĐẤNG HÓA THÂN


(THE DOCTRINE OF AVATARS) Tháng 5 – 1941 Khi chúng ta đi vào tháng trọng yếu tức tháng 5 năm nay, tôi đã tự hỏi không rõ có cách nào để tôi có thể gợi lên cho những người tìm đạo trên thế giới và các đệ tử của tôi có một nhận thức đúng thực hơn về ý nghĩa vốn có của cơ hội được đưa ra và cũng tự hỏi không biết có cách nào để có thể đơn giản hóa và làm cho bạn hiểu rõ hơn Giáo lý về Đấng Sắp Đến – liên kết với giáo huấn của mọi tôn giáo lớn. Trong tất cả các tôn giáo này đều có ý tưởng về một Huyền Giai tinh thần (spiritual Order), thuộc bên trong liên quan đến phúc lợi đang mở ra cho nhân loại.

Đây là một thời kỳ có các đỉnh điểm cuối cùng. Ngày nay các đỉnh điểm (culminations) như thế đều xuất hiện trong lãnh vực tôn giáo, cũng như trong lãnh vực khoa học và chính trị. Tất cả các đường lối tiếp cận lớn lao đến thực tại và đến chân lý của nhân loại đang vượt ra ngoài lãnh vực hữu hình và ngoại môn, đi vào lãnh vực vô hình và nội môn. Khoa học đang nhanh chóng trở thành khoa học về cái vô hình và về cái không thể chứng minh; tôn giáo đã nhô lên khỏi lãnh vực thần bí, đi vào bầu không khí rõ ràng hơn của siêu nhiên (the occult), và giờ đây phải nhấn mạnh vào thực tại của cái không thấy được như là nguyên nhân hữu hiệu của cái thấy được; chính trị và cách cai trị được gắn liền với các tiến trình tư tưởng và các ý thức hệ.

Bấy giờ cấu trúc thực sự bên trong của thực tại là gì để sẽ mang lại sức mạnh cần thiết cho nhân loại vào lúc này, như thế đủ để làm thỏa mãn nhu cầu của con người về chân lý và chứng minh một cách thích đáng để trả lời cho các câu hỏi liên miên tuy sáng suốt của nhân loại ?

Ở đây tôi muốn khẳng định rằng câu trả lời thỏa đáng [286] và quan trọng cho mọi nghi ngờ và cho nhu cầu của con người phải được tìm thấy trong triết lý về các Đấng Hóa Thân, trong sự liên tục của các Khải Thị thiêng liêng. Đây là niềm tin bền bĩ – không thể xóa bỏ và không thể thay đổi – rằng (vào các thời điểm chính của nhu cầu thế giới) Thượng Đế tiết lộ chính Ngài thông qua các Ngoại Hiện (Appearances), thông qua Đấng Sắp Đến. Triết lý này được tìm thấy trong mọi tôn giáo căn bản của thế giới, vào mọi lúc và mọi thời; nó cũng xuất hiện trong triết lý về các Đấng Hóa Thân của đức tin Ấn Giáo, trong giáo huấn về sự tái lâm của Đức Di Lạc (Maitreya Buddha) hay Đấng Hóa Thân Kalki (Kalki Avatar), theo đức tin ở thế giới Tây phương tin vào sự tái lâm của Đức Christ và sự Giáng Sinh (Advent) của Ngài hay là lần Tái Lâm thứ hai và trong sự tái xuất được tiên đoán về Người Phiêu Lưu thiêng liêng (divine Adventurer) của giới Hồi giáo. Mọi điều này được ràng buộc với niềm tin bất diệt của nhân loại trong Trái Tim yêu thương của Thượng Đế, Đấng bao giờ cũng đáp ứng với nhu cầu của con người.

Chứng nhân của lịch sử luôn luôn là sự xuất hiện của nhu cầu con người đã được đáp ứng với Khải Thị thiêng liêng (divine Revelation).

Lý do của việc tin tưởng này, có sẵn trong tâm người, được tìm thấy trong sự kiện về bản thể của chính Thượng Đế. Câu nói của Cơ Đốc giáo “Thượng Đế là Tình Thương” được thiết lập trên sự thật tâm linh sâu xa nhất đã được nhận biết. Biểu hiện của đặc tính thiêng liêng này có thể được tóm tắt trong các lời lẽ của quyển Tiếng Nói Vô Thanh.

Lòng từ ái không phải là thuộc tính (attribute). Đó là Định Luật của các Định Luật – Hài Hòa vĩnh cửu, Bản Ngã của Alaya; một tinh hoa vũ trụ không bờ bến, ánh sáng của lẽ phải trường cửu và sự thích hợp của các sự việc, định luật của tình thương vĩnh cửu. Việc xuất hiện theo chu kỳ của các Thần Mặt Trời (Sun Gods) trong thần thoại cổ xưa, các Đấng Cứu Độ Thế Gian và các Đấng Hóa Thân là chứng cớ và là đảm bảo cho lòng Từ Ái đời đời này. Lễ Wesak (Wesak Festival) Vào lễ Wesak này, tôi muốn kêu gọi các bạn chú ý đến sự kiện là việc trở lại mỗi năm của Đức Phật để ban phước cho con dân của Ngài ở khắp nơi và để truyền đạt thông điệp minh triết, ánh sáng và tình thương cho nhân loại – như Ngài [287] đang làm, đến từ ngay Trái Tim của chính Thượng Đế – là bằng chứng bên ngoài và đảm bảo cho sự hướng dẫn thiêng liêng bên trong và sự khai mở trong chu kỳ thế giới hiện nay là 2.500 năm. Cứ mỗi năm Ngài quay trở lại. Trong giây phút ngắn ngủi, Ngài nhắc nhở chúng ta rằng Thượng Đế đang hiện hữu và bao giờ cũng yêu thương; rằng Ngài không phải không lưu tâm đến con dân của Ngài; rằng tâm của vũ trụ là tình thương không thể thay đổi và rằng con người không chỉ có một mình. Muốn tạo ra sự nhận thức này và làm cho cái dạng thức này có thể có được, một Tam Giác Năng Lượng linh hoạt được tạo ra và tập trung qua ba Đấng Tinh Thần vĩ đại, các Ngài khêu gợi sự nhận thức cả ở Đông phương lẫn Tây phương. Các tín đồ của mọi tôn giáo và mọi quốc gia đều biết đến các Ngài. Có Ba Vị :

1.– Đấng Cai Quản Thế Giới, Đấng Thái Cổ, Đức Sanat Kumara, Hành Tinh Thượng Đế, Melchizedek, Đấng mà khi nhắc đến Ngài Đức Christ nói “Ta và Cha Ta là Một”.

2.– Đức Phật, Đấng Giác Ngộ, Đấng Khai Mở ánh sáng và minh triết, cả hai đến với chúng ta từ các cội nguồn còn vĩ đại hơn là Hành Tinh Thượng Đế của chúng ta, một Sứ giả của các Thái Dương Thượng Đế (Gods). 3.– Đức Christ, Con của Từ Phụ, Đấng Cứu Độ Thế Gian, Đấng Cứu Thế (the Redeemer). Ngài vẫn ở với chúng ta và Ngài đang gom góp các con cừu của Ngài vào bãi nhốt của Ngài, Đấng Bác Ái. Trong Ba Đấng này, mà bản thể các Ngài là tình thương và ánh sáng tỏa chiếu, nhân loại có thể hiểu được ở mức độ nào đó bản thể của Thượng Đế tính (divinity). Các Ngài vĩ đại hơn là người ta hiểu; sự sáng suốt và đạo tâm của con người chỉ có thể mơ hồ cảm nhận (sense) bản thể chính yếu của các Ngài mà thôi; sức mạnh tinh thần của các Ngài phải được đưa xuống nếu nhân loại chịu được sự thúc ép đối với ảnh hưởng của năng lượng mà các Ngài tạo ra và tìm cách truyền đạt. Chính tiến trình đưa xuống này sẽ xảy ra vào lúc Trăng Tròn Tháng 5 và đưa đến việc “tập trung sự truyền chuyển” bằng ý định có tập trung của Thánh Đoàn và thỉnh nguyện có tập trung của những người tìm đạo và các đệ tử trên thế giới – tự nó được kéo theo bằng – nhu cầu có tập trung của con người ở mọi nơi.

[288] Hỡi huynh đệ, đây là một phát biểu đơn giản về các sự kiện phải được tất cả các bạn hiểu rõ, vì bạn là kẻ tìm cách tham dự một cách sáng suốt vào lễ Wesak và là kẻ đang lo lắng để hành động như là tác nhân truyền chuyển năng lượng tinh thần mà vào lúc này sẽ được tuôn đổ vào nhân loại đau khổ. Lễ Wesak năm 1941 này có thể chứng minh là “Tác Nhân Thay Đổi của các Tình Huống” (“Changer of Conditions”) và là một điểm rẽ chủ yếu trong cuộc sống của nhân loại nếu mọi người có tâm trí thiên về tâm linh có thể đưa chính mình đến mức độ xả kỷ cần thiết, đến sự tinh khiết nhờ giữ giới luật và kết quả là dễ lãnh hội. Có một vài chân lý căn bản nằm sau mọi tôn giáo được khai mở. Các chân lý đó rất thiết yếu cho sự tăng trưởng tâm linh và các nhận thức về Thượng–Đế–tính tăng lên không ngừng của con người. Tất cả chân lý khác được tìm thấy dưới tên gọi “triết lý” (“doctrine”) và các nhóm từ kết hợp chỉ là các mở rộng của các chân lý căn bản này, có bản chất giải thích, biểu hiện cho các giải thích của con người, và các công thức đối với các nhận thức về tiến hóa. Các điều này phần lớn là các bổ sung và có bản chất là để tô điểm, suy luận và tiên đoán; chúng luôn luôn tùy thuộc vào sự thay đổi, bác bỏ hay phát triển khi nhận thức trí tuệ và tâm linh của con người khai mở; chúng không phải là chân lý căn bản hoặc không thể thay đổi. Chính những chân lý không thể thay đổi phải được khám phá và nhận biết khi tôn giáo mới trên thế giới hình thành trên Địa cầu và chi phối tư tưởng và ý thức con người trong Kỷ Nguyên Mới sắp đến. Các Chân Lý Căn Bản cho đến nay. Các chân lý căn bản này không bao giờ thay đổi bởi vì chúng có liên quan đến bản thể của chính Thượng Đế và trở thành hiển nhiên đối với nhân loại nhờ sự thiên khải, khi sự tiến hóa nối tiếp và con người đã phát triển được các khả năng nhận thức cần thiết và kiên trì tìm tòi cần thiết, cộng với việc khai mở ánh sáng nội tâm của linh hồn. Các Chân lý này, có sẵn trong bản thể thiêng liêng, tiết lộ linh hồn của Thượng Đế (the soul of God). Đó là :

1.– Định luật về lòng trắc ẩn (Law of Compassion). Đây là chân lý về mối liên hệ đúng đắn, về sự cảm thông bằng tình thương, về Tình Thương được biểu hiện một cách linh hoạt. Đó là nền tảng của tình huynh đệ và là biểu hiện của sự hợp nhất bên trong. [289]

2.– Sự thật về Thượng Đế (The Fact of God). Đây là chân lý giải thích Đấng Hiện Tồn là Thượng Đế Nội Tại và là Thượng Đế Siêu Việt (Being is God Immanent and God Trancendent); chân lý đó bao hàm việc nhận thức được cái Tổng Thể vĩ đại và phần có liên hệ; đó là sự hiểu biết về thiên tính, được xác định nhờ mối liên hệ đúng và sự đồng nhất về cội nguồn. Đó là việc tiết lộ về sự sống của Thượng Đế đang thấm nhuần vạn hữu (Thượng Đế Nội Tại), và về cùng sự sống đó đang tạo ra mối liên hệ vũ trụ còn vĩ đại hơn nữa (Thượng Đế Siêu Việt) vốn là đảm bảo cuối cùng của mọi tiến bộ và của sự thiên khải tuần tự. “Ta vẫn đang tỏa khắp toàn thể vũ trụ này với một phần của chính Ta”, là nhiệm vụ khó khăn của Thượng Đế và cái hy vọng muôn thuở của nhân loại. Đây là câu trả lời của Chính Sự Sống đối với các nguyện vọng của nhân loại, đối với các vấn nạn của khoa học và đối với toàn bộ vấn đề thế giới. Thượng Đế ở đây, hiện hữu trong chúng ta và dưới mọi hình thức biểu lộ; Ngài bao hàm, lan tỏa khắp nơi và vẫn siêu việt. Ngài vĩ đại hơn mọi biểu hiện. Ngài tiết lộ chính Ngài một cách từ từ và theo chu kỳ khi con người sẵn sàng đón nhận hiểu biết cao xa hơn.

3.– Sự Thiên Khải liên tục. Qua các thời đại và ở mỗi bước ngoặt của nhân loại, luôn luôn vào các thời điểm cần thiết lúc thành lập giống dân mới, hay là vào lúc khơi hoạt của một nhân loại đã được chuẩn bị để có tầm nhìn mới và rộng lớn hơn, Tâm của Thượng Đế – do định luật trắc ẩn thúc đẩy – sẽ gởi ra một Huấn Sư, một Đấng Cứu Thế, một Đấng Đại Giác (Illuminator), một Đấng Hóa Thân (Avatar). Đấng này đưa ra thông điệp để sẽ hàn gắn, sẽ vạch ra giai đoạn kế tiếp mà nhân loại phải chọn, nhờ đó sẽ soi sáng được vấn đề tối tăm trên thế giới và trao cho con người một biểu hiện của trạng thái thiên tính mà từ trước đến giờ không được hiểu rõ. Về sự thật của sự thiên khải liên tục và về trình tự của biểu lộ từ từ này của bản thể thiêng liêng được dựa vào triết lý về Đấng Hóa Thân, các Sứ giả thiêng liêng, các Ngoại Hiện thiêng liêng và các Tiên Tri có linh hứng. Lịch sử chứng minh một cách rõ ràng về tất cả các Vị này.

4.– Sự Đáp Ứng Tất Nhiên của Nhân Loại (The Inevitable Response of Humanity). Bằng các lời đơn giản này tôi đã diễn tả phản ứng tâm linh theo bản năng của con người và của tinh thần bất tử của con người đối với ba chân lý căn bản nêu trên. Mãi mãi và hầu như chắc chắn là tinh thần thiêng liêng trong con người này phải đáp ứng với Ngoại Hiện thiêng liêng. Bằng chứng của điều này là chắc chắn và đã được chứng minh. Trong nhân loại có những điều giống [290] với Thượng Đế và được nhận biết là riêng của nhân loại khi nó xuất hiện. Đó là thực tại không thể lay chuyển trong tâm con người và sự nhận biết là phần thưởng và kết quả tất nhiên của thiên khải.

5.– Sự tiến bộ (Progress). Phản ứng của con người cá biệt và của đa số con người đối với sự thiên khải liên tục – đã được lịch sử chứng minh – không thể bị chối bỏ. Đó là sự kiện căn bản của tôn giáo. Các loại thiên khải đó có thể thay đổi nhưng mỗi thiên khải mới – được đưa ra để đáp ứng với nhu cầu và thỉnh nguyện của con người – bao giờ cũng hướng dẫn nhân loại tiến tới một mục tiêu sáng sủa vững chắc và một vinh quang to tát hơn. Sự thiên khải có thể xảy đến theo các mức độ khác nhau của ý thức con người. Đó có thể là thiên khải về các vùng đất mới cần chinh phục, về đất đai hoặc trí tuệ. Một số người đã nêu ra đường lối. Đó có thể là sự nhận thức về các định luật và các sự kiện mới trong thiên nhiên, được hiểu và được sử dụng một cách khoa học; đó có thể là sự đáp ứng của người thông minh đối với sự hiểu biết ngày càng tăng, tạo ra một kiểu mẫu văn minh mới. Một số linh hồn đã giải thoát có nêu ra con đường. Đó có thể là sự đáp ứng của tâm con người với Tâm của Thượng Đế, đưa đến ân phúc huyền bí và đưa đến nhận thức về Hữu Thể tinh thần (spiritual Being). Đó có thể là phản ứng của con người đối với một giáo huấn mới nào đó, một số khai mở thêm nữa, kết quả là đưa đến sự tiếp cận tôn giáo mới mẻ và phong phú, đối với trung tâm của sự sống. Một số Sứ giả (Messenger) đã nêu ra con đường. Nhưng luôn luôn con  đường đó có nghĩa là tiến bộ, tiến tới bác bỏ giới hạn hiện có, khước từ cái không ưa thích và cái sai trái. Luôn luôn nó bao hàm việc nhận biết về cái khả hữu, cái lý tưởng và cái thánh thiện.

6.– Siêu việt (transcendence). Điều này hàm ý là năng lực có sẵn để vượt qua cái được gọi là định luật thiên nhiên. Việc vượt qua giới hạn này bao giờ cũng xảy ra và tiến trình siêu việt này sẽ đưa tới hiểu biết ngày càng tăng. Nó đánh dấu giai đoạn chủ yếu kế tiếp trong việc biểu lộ thiên tính nơi con người; nó hàm ý việc chiếm ưu thế trên định luật vật chất và sự chiến thắng sắp tới của nhân loại trên các mãnh lực từ lâu nay đã nắm giữ con người vào cõi trần. Việc kiềm chế hiện nay trên không trung là biểu tượng của sự siêu việt này. Con người đang nhanh chóng chế ngự bốn hành khí (four elements, tứ đại). Con người trồng trọt trên đất, lướt đi trên nước (ride the water); con người điều khiển lửa điện của hành tinh và bay một cách thành công qua không khí. Bây giờ nảy sinh ra câu hỏi : Hỡi huynh đệ, tiếp theo là gì? Một siêu việt khác nằm trước mắt. Đó là một trong các điều mà Đấng Hóa Thân sắp đến sẽ tiết lộ.

...
Sự xuất lộ của các Đấng Hóa Thân.
Từ năm 1400 (một niên đại mà trước kia tôi có đề cập đến) đã liên tiếp xuất hiện các Đấng Hóa Thân thứ yếu, các xuất lộ này cốt đáp ứng với các cuộc khủng hoảng nhỏ, với các vấn đề tiến thoái lưỡng nan của quốc gia và nhu cầu tôn giáo. Các vị này khoác lấy hình thức của những người nam và nữ đã bênh vực một cách thành công một chân lý nào đó hoặc một đại nghĩa chính đáng nào đó, một nhân quyền hoặc nguyện vọng đúng đắn nào đó của con người. Tất cả những người này đều đã hoạt động một cách tích cực trên cõi trần và ít khi họ thực sự được nhận ra; vào niên đại sau đó, chỉ có lịch sử mới nhấn mạnh vào sự thành tựu của họ mà thôi. Nhưng họ đã thay đổi dòng tư tưởng của con người; họ vạch ra con đường đưa đến cách sống tốt đẹp hơn; họ đi tiên phong vào các lãnh vực thành tựu mới mẻ của con người. Một người là Luther ([34]); người khác là Columbus ([35]); những người nữa là Shakespeare ([36]) và Leonardo da Vinci ([37]) – chỉ nhắc đến bốn người đã sống, suy tư và hành động cách nào mà họ đã chi phối các biến cố tiếp theo sau trong một số lãnh vực sinh hoạt của con người và vẫn còn được xem như là các linh hồn đi tiên phong, như là các nhà lãnh đạo của con người. Tôi sẽ không bàn đến các vị đệ tử này. Họ tiêu biểu cho các ý tưởng và tạo nên lịch sử – không phải lịch sử về sự chinh phục mà là lịch sử của tiến hóa. Tôi tìm cách nghiên cứu với bạn các Đấng Hiển Lộ (Appearances) còn vĩ đại hơn nữa, các Đấng này xuất phát từ một số trung tâm ẩn tàng nào đó hoặc xa hoặc gần với nhân loại và các Ngài “giải thoát các con của nhân loại khỏi cuộc khủng hoảng”. Phần lớn các vị này thuộc vào bốn nhóm tương đối nhỏ:

2.  Các vị Hóa Thân của giống dân (Racial Avatars). Các Đấng Hiển Lộ này được tạo ra bởi siêu tài và vận mệnh của một giống dân. Người kiểu mẫu (typical man) (về tính chất và tâm thức, không nhất thiết về mặt hình thể) báo trước bản [298] chất của một chủng tộc. Một người như thế là Abraham Lincoln ([38]) xuất phát từ chính linh hồn của dân tộc, mở đầu và truyền đạt tính chất của chủng tộc – một tính chất mà sau này phải được thể hiện khi chủng tộc khai mở. Một cách tương xứng, xuất phát từ lãnh vực tà lực của vũ trụ và chịu trách nhiệm cho sự tập trung của chủ nghĩa vật chất trên hành tinh ngày nay là Bismark ([39]). Cả hai người đều đến trong vòng một trăm năm qua, như vậy chứng tỏ sự thăng bằng trong thiên nhiên và sự tương tác luôn luôn xảy ra của các cặp đối hợp. Họ là hai mẫu của các vị Hóa Thân mạnh mẽ nhất mà chính nhân loại đã tạo ra cho đến nay. Họ xuất hiện theo các đường lối cai trị (government) của cung một và trong phần hành (department) của Đức Bàn Cổ, và rất nhạy bén với lực Shamballa. Các vị Hóa Thân như thế thường xuất hiện vào lúc thành lập một quốc gia. Điều này đúng cho cả Bismarck lẫn Lincoln.

2. Các Hóa Thân về giáo huấn (Teaching Avatars). Các Đấng Hiển Lộ này phát lên một giai điệu mới trong lãnh vực tư tưởng và ý thức; các Ngài tiết lộ chân lý cần thiết kế tiếp; các Ngài tuyên xưng các lời này và diễn giải các chân lý này để chiếu rọi ánh sáng vào sự phát triển tâm linh của nhân loại. Các vị Hóa Thân như thế là Plato, thứ nhất là Patanjali và Sankaracharya; các vị này xuất hiện dựa vào tuyến năng lượng của cung hai, trong phần hành của Đức Christ và là các biểu hiện của thần lực Thánh Đoàn. Khi nói đến phần hành (department) của Đức Christ, tôi muốn nhắc nhở bạn rằng danh xưng “Christ” là tên của một nhiệm sở (office) – mỗi nhiệm sở đều luôn luôn có vị lãnh đạo của nó. Tôi không nhắc đến Đức Christ hay Đức Phật, trong số các vị Hóa Thân này, bởi vì các Ngài là Đấng Hóa Thân thuộc giai tầng (class) khác và có tiềm lực lớn vô cùng.

3.  Các vị Hóa Thân của Cung (Ray Avatars). Các Đấng Cao Cả vĩ đại này xuất hiện vào các thời kỳ tương đối dài khi một cung biểu lộ. Các Ngài tiêu biểu cho tính chất và mãnh lực của một cung đặc biệt. Thế kỷ tới đây ([40]), khi cung bảy đạt tới biểu lộ đầy đủ và ảnh hưởng của cung Song Ngư hoàn toàn mất hết thì Đấng Hóa Thân của cung bảy sẽ xuất hiện. Công việc của Ngài sẽ minh chứng cho luật pháp, trật tự và sự nhịp nhàng của tiến trình sáng tạo khi tiến trình này diễn ra trên cõi trần, pha trộn tinh thần và vật chất. và vì cung này được gọi là Cung Trật Tự hay Nghi Lễ (Ray of Ceremonial Order or [299] Ritual), chủ yếu Ngài sẽ là công cụ để tạo ra các tình huống sẽ cho phép tái hiện trên Địa cầu các Bí Pháp về Điểm Đạo, mà Thánh Đoàn đang bảo quản. Tất nhiên là Ngài có liên quan đến Đại Bạch Giai trên Sirius ([41]). Tuy nhiên, hiện nay, sự kiện này không liên quan đến chúng ta, vì chúng ta đang chờ việc xuất lộ của một Đấng Hóa Thân còn vĩ đại hơn nữa.

4.– Các Hóa Thân truyền chuyển (Transmitting Avatars). Các biểu lộ này của thiên tính xuất hiện vào các thời điểm khai mở thuộc các chu kỳ vĩ đại khi nhân loại cần diễn đạt một chân lý mới hoặc quảng diễn (expansion) một chân lý cũ ngõ hầu tiến tới nấc thang tiến hóa còn cao siêu hơn. Các vị Hóa Thân này xuất lộ để đáp ứng với nhu cầu chớ không liên quan gì nhiều với sự phát triển của nhân loại vì các Ngài có liên hệ đến sự khai mở tâm thức bên trong và với sự thúc đẩy nhân loại nói chung. Trong số các Đấng Hóa Thân này, thì Đức Phật và Đức Christ là các thí dụ nổi bật. Các Ngài không chỉ là các Hóa Thân thiêng liêng của nhân loại, và do đó, có thể nối liền nhân loại với Thánh Đoàn, mà các Ngài còn là những gì vĩ đại và quan trọng hơn nhiều. Các Ngài đã đạt đến trình độ mà các Ngài có thể hành động với tư cách các Đấng Truyền Chuyển một vài nguyên khí vũ trụ – được tập trung nơi các Ngài bằng một ý thức ngoài hành tinh – có thể kích thích nguyên lý tương ứng tiềm tàng nằm sâu trong nhân loại. Các Ngài truyền chuyển và mang lại một điều gì đó từ bên ngoài sự sống hành tinh – từ ngay Tâm của Thượng Đế đến tâm của con người. Do đã đạt được sự giác ngộ, Đức Phật đã kích thích ánh sáng trên thế giới, trong nhân loại và trong mọi hình hài. Ngài phụng sự cho linh hồn con người. Do sự thành đạt kỳ diệu của Ngài, Đức Christ – theo đường lối cảm thông – đã truyền chuyển cho con người, lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại, một trạng thái và một tiềm lực thuộc thiên nhiên của chính Thượng Đế. Trước khi có sự ra đời của Đức Phật, thì ánh sáng, đạo tâm và sự nhận thức về Thượng Đế siêu việt là biểu hiện yếu ớt của thái độ con người đối với Thượng Đế. Sau đó, Đức Phật đã đến và đã minh chứng bằng cuộc sống riêng của Ngài, sự kiện về Thượng Đế Nội tại (God Immanent), cũng như Thượng Đế Siêu Việt (God Transcendent); ý tưởng về Thượng Đế trong vũ trụ và về Thượng Đế trong nhân loại đã phát triển. Trạng thái Bản Ngã (the Selfhood) của Thượng Đế và Bản Ngã trong [300] tâm (Self in the heart) của con người cá biệt đã trở thành một nhân tố trong ý thức con người. Đó là một chân lý tương đối mới mẻ mà nhân loại cần phải thấu triệt. Chân lý đó luôn luôn được các đệ tử thường và đệ tử điểm đạo biết rõ.

Tuy nhiên, trước khi Đức Christ đến và sống một cuộc đời bác ái, phụng sự và đưa ra cho nhân loại điều răn mới về tình thương, bất cứ kinh sách nào trên thế giới cũng đều rất ít nhấn mạnh vào Thượng Đế dưới hình thức Tình Thương. Sau khi Ngài xuất hiện với tư cách là Đấng Hóa Thân của Tình Thương, bấy giờ Thượng Đế mới được biết đến như là Tình Thương cao cả, tình thương dưới hình thức mục tiêu và đích nhắm của sáng tạo, tình thương dưới hình thức nguyên lý căn bản của các mối liên hệ, và tình thương tác động trên mọi biểu lộ hướng về một kế hoạch được thôi thúc bởi lòng bác ái. Đức Christ đã tiết lộ tính chất thiêng liêng này, và như vậy thay đổi mọi cách sống của con người và các mục tiêu của nhân loại. Hiện nay cũng có một thúc đẩy và bành trướng lớn đối với công việc và sự phát triển của Thánh Đoàn, vốn đã có ở một mức độ nhỏ khi Đức Phật đến. Nhiều đệ tử điểm đạo đã thành các Chân Sư; nhiều Chân Sư đã chuyển qua công việc cao siêu hơn và nhiều đệ tử bước vào hàng ngũ các đệ tử được điểm đạo. Có một số lớn người tìm đạo bước vào hàng ngũ các đệ tử chính thức.

Trong tác phẩm trước đây, tôi có bàn về một vài Đấng Hóa Thân này dưới các danh xưng và hạng mục loại khác nhau. Ở đây tôi nói đến các Ngài chỉ với một cố gắng đem đến cho một quần chúng đông đảo hơn giáo huấn về triết lý của các Đấng Hóa Thân hay về các Đấng Hiển Lộ thiêng liêng. Thánh kinh có đầy dẫy các Đấng Hiển Lộ như thế, nhưng thực ra chỉ một ít người hiểu được các Ngài. Trên đây chỉ là các nhóm quen thuộc mà thôi. Vào tháng 9 – 1940, tôi có đưa ra một giải thích về một đoạn mới của Đại Khấn nguyện, và trong giảng giải đó, tôi có nói đến các Đấng Hiện Thân Thiêng Liêng (Divine Embodiments) như là kiểu mẫu cao nhất của Đấng Hóa Thân mà nhân loại có thể tìm thấy ở trình độ tiến hóa hiện nay. Tôi nói đến hoạt động của Thánh Đoàn và của Shamballa, có lẽ hai cơ quan thiêng liêng này định đoạt rằng sự can thiệp dưới hình thức một tai biến trải rộng (đang vùi lấp mọi người) là cần thiết, và tôi đề cập đến sự xuất hiện của tình trạng lãnh đạo có linh hứng như là một khía cạnh thấp khác của sự dẫn dắt và tham dự thiêng liêng.

[301] Hiện giờ khả năng lãnh đạo theo linh hứng (inspired leadership) như thế đang được đưa ra cho nhân loại qua Winston Churchill và Franklin D. Roosevelt, trái ngược với tình trạng lãnh đạo tập trung của các cường quốc thuộc chủ nghĩa duy vật thông qua Hitler và một người khác trong nhóm ông ta. Nhưng không phải hình thức lãnh đạo này được xem như tiêu biểu cho nguyên tắc hóa thân (avatar principle) mà tôi bàn đến ở đây. Khả năng lãnh đạo như thế được gợi ra bởi các yếu tố hiện có trong chính nhân loại. Bây giờ tôi bàn đến một kiểu mẫu Hóa Thân thứ năm, vĩ đại hơn cả bốn kiểu mẫu kia. Trong chu kỳ thế giới này các Đấng Hóa Thân này không trải qua kinh nghiệm sống của nhân loại.

5. Các Đấng Biểu Hiện Thiêng Liêng (Divine Embodiments). Rất hiếm khi các Đấng Hóa Thân này xuất hiện; và khi các Ngài xuất hiện, thì hiệu quả và kết quả của công việc các Ngài rất to tát. Các Ngài xuất hiện xuyên qua trung tâm ở Shamballa, bởi vì các Ngài tiêu biểu cho bản chất ý chí của Thượng Đế; các Ngài tượng trưng cho thiên ý (mục tiêu thiêng liêng); năng lượng đang tuôn đổ qua các Ngài và được truyền chuyển bởi các Ngài, được tập trung qua Đấng Cai Quản Địa Cầu (Lord of the World); các Ngài chỉ có thể được tiếp cận bằng các tiếng nói hợp nhất của Thánh Đoàn và của nhân loại đang đồng thanh phát ra; việc phụng sự của các Ngài chỉ được thỉnh cầu bằng nhu cầu đã được hiểu rõ, và chỉ sau khi những ai đang khấn nguyện các Ngài, mà đã đưa thêm vào niềm tin của họ một hành động bền bĩ và đã làm hết sức mình, chỉ một mình và không có sự trợ giúp, để vượt qua tà lực.

Các Ngài không bao giờ xuống thấp hơn cõi trí (mental plane), tầm quan trọng chủ yếu và sự chú tâm chính vào công việc của các Ngài được hướng đến Thánh Đoàn; Thánh Đoàn là vận hà / trung gian (agency) truyền chuyển của các Ngài; đôi khi các Ngài tiếp cận với người trong lúc suy tư, biết an trụ vào cõi trí, tức những người có được cái nhìn sáng suốt, có cách giải quyết có hiệu năng, có ý chí biết điều khiển và trí óc rộng mở, dĩ nhiên cộng thêm sự tinh khiết cần phải có của hình hài (form). Các Đấng Hóa Thân này tiêu biểu cho Ý Chí của Thượng Đế, năng lượng của Shamballa và sự thôi thúc ẩn sau thiên ý. Khi các Ngài quyết định xuất lộ, đó sẽ là khía cạnh hủy diệt của cung một, tức là cung quyền lực mà các Ngài sẽ biểu hiện; các Ngài gây ra tử vong – tử vong của mọi hình hài cổ xưa, hữu hạn và những gì đang tích chứa tà lực. Do đó, công việc của các Ngài thuộc vào hai loại:

a.      Các Ngài sẽ hủy diệt các tà lực bằng cách dùng trung gian (agency) của các Huyền Lực Diệu Quang. [302]

b. Các Ngài sẽ khai mở thiên ý nhiều đến mức tối đa mà nhân loại có thể hiểu được qua các bộ óc lỗi lạc nhất trong nhân loại và những người tìm đạo cống hiến nhiều nhất; các Ngài sẽ làm sáng tỏ tầm nhìn xa của các đệ tử trên thế giới và của tất cả những ai có được ý-chí-muốn-biết được đưa vào nề nếp và những ai biết hiến dâng và tiêu biểu cho ý chí hành thiện. Sự hiểu biết và ý chí này rất cần trong giai đoạn tái điều chỉnh sắp tới.

Bằng cách nào mà các Ngài sẽ đưa các tình huống tệ hại hiện nay đến chỗ kết thúc và bằng các nào các Ngài sẽ huỷ diệt tình trạng tệ hại hiện nay với thái độ thù nghịch thiên về vật chất, tôi không thể tiết lộ được. Tuy nhiên không chắc là sự phát triển và hiểu biết của nhân loại, cũng như ý thức có tập trung của nhân loại sẽ trở thành thích hợp cho nguyện vọng cần thiết và đủ mạnh để thỉnh cầu các Ngài xuất lộ. Chỉ có thời gian mới có thể định đoạt việc đó. Chúa (God) muốn cho những người tìm đạo và các đệ tử trên thế giới sẽ thức tỉnh trước cơ hội và khả năng có sẵn đang chờ đợi.

Cảnh khốn khó của các nhóm người rộng lớn trên hành tinh ngày nay đang đè nặng lên tâm can của Thánh Đoàn. Nhưng để đưa tới giải thoát và sự Xuất Hiện của các Huyền Năng có thể giải thoát, thì sự hợp tác của con người là điều cần thiết. Không có nơi nào mà điều này vô cùng cần thiết hơn là nơi dân tộc Đức trong mảnh đất bất hạnh của họ. Do đó Thượng Đế ban cho những người Đức này, tức là kẻ có được tầm nhìn xa, có thể gia nhập vào các lực lượng của những ai đang tìm cách giải phóng nước Đức và dân tộc Đức khỏi sự chuyên chế bị áp đặt của Tập Đoàn xấu xa (evil Lodge) đang tác động qua bảy đại diện của họ ở Đức. Khi những người Đức đang sống cuộc đời tự do ở những vùng đất khác có thể suy tưởng bằng các thuật ngữ của nhân loại nói chung chớ không bằng các thuật ngữ mang ảo cảm quốc gia, chứa hận thù hoặc than thân trách phận, lúc bấy giờ, tiếng nói của họ sẽ được góp thêm vào tiếng nói của các dân tộc tự do khác, cũng như thêm vào tiếng nói của những người tìm đạo và các đệ tử trong các quốc gia này.

Khi Đấng Hóa Thân đến, Ngài sẽ truyền đạt cho nhân loại một điều gì đó mà cho đến nay, chúng ta không có tên gọi chính xác. Đó không phải là tình thương cũng không phải là ý chí theo như chúng ta hiểu. Chỉ có một câu gồm nhiều từ có thể gợi lên một điều gì đó có ý nghĩa và lại chỉ với nghĩa mơ hồ. Câu này là “nguyên tắc với mục tiêu có định hướng” (“the principle of directed purpose”). Nguyên tắc này gồm ba yếu tố: [303]

a. Hiểu biết (bằng trực giác và bản năng, nhưng được diễn dịch một cách sáng suốt) về thiên cơ khi thiên cơ này có thể được thể hiện trong tương lai gần.
b.      Ý định có tập trung, dựa vào hiểu biết trên và nhấn mạnh vào một khía cạnh của ý chí, mà từ trước đến giờ không phát triển nơi con người.
c.       Khả năng định hướng năng lượng (thông qua sự hiểu biết và ý định) hướng đến mục tiêu được biết rõ và được mong muốn, vượt qua mọi chướng ngại và hủy diệt tất cả những gì có trên đường đi. Đây không phải là sự hủy diệt hình hài bằng sức mạnh như hiện giờ đang được áp đặt trên thế giới, mà là sự hủy diệt xảy ra do cuộc sống được làm cho mạnh thêm nhiều bên trong hình hài. Chỉ có một trăm năm kế tiếp mới bộc lộ ý nghĩa của phát biểu này và chỉ lúc bấy giờ nếu ý định có tập trung của con người thỉnh nguyện Đấng Hóa Thân Tổng Hợp này (Avatar of Synthesis) trong mười hai tháng tới đây. Tôi đã gọi Đấng Cao Cả này bằng danh xưng trên bởi vì danh xưng đó biểu hiện tính chất và mục tiêu của mãnh lực mà Ngài mang lại và vận dụng.

Một Đấng Hóa Thân thứ yếu khác cũng đang chờ tiếng thỉnh nguyện (call) của nhân loại. Về mặt nội môn, Ngài có liên quan đến Đấng Hóa Thân Tổng Hợp, vị đang được Ngài phù trợ (overshadowed). Đấng Hóa Thân thứ yếu này có thể giáng xuống cõi trần đi vào ngoại hiện và như thế có thể xuống thấp và truyền sự kích thích và tính chất của thần lực của Đấng Hóa Thân vĩ đại hơn, vì Đấng này không thể tiến gần hơn đến cõi trí. Đấng Sắp Đến này có thể là Vị nào thì đến nay chưa được tiết lộ. Có thể đó là Đức Christ nếu công tác khác của Ngài cho phép; có thể là Đấng được Đức Christ chọn lựa để xuất lộ, được Đấng Hóa Thân Tổng Hợp phù trợ và được Đức Christ, tức là Đấng Bác Ái (Lord of Love) hướng dẫn trong các hoạt động của Ngài. Bằng cách này, năng lượng của Shamballa lẫn Thánh Đoàn sẽ được tập trung qua Đấng Cao Cả Sắp Đến được chọn. Như vậy một tam giác bác ái, năng lượng có chủ đích sẽ được tạo ra có thể cho thấy là cách thức có hiệu quả hơn để phóng rải năng lượng và là cách thức an toàn hơn là tác động tập trung của một lực duy nhất được chọn lựa.

Tôi hiểu được nỗi khó khăn của vấn đề này và có lẽ có thể đơn giản hóa vấn đề bằng một tóm lược ngắn gọn :

1.– Một Đấng Hóa Thân vĩ đại thuộc vũ trụ (a great cosmic Avatar) có thể đến nếu Thánh Đoàn và nhân loại có thể cùng đứng chung nhau với ý định tập trung. [304]

a. Ngài sẽ giáng xuống vào ba cõi nỗ lực của nhân loại, nhưng không gần hơn cõi trí (mental plane).

b. Ngài sẽ truyền chuyển năng lượng vũ trụ mà tính chất của năng lượng này là Tổng Hợp (Synthesis). Năng lượng này sẽ tự biểu hiện thông qua sự hài hòa và hợp nhất, tất nhiên tạo ra sự cảm thông, thúc đẩy thiện chí và sau rốt kết thúc các khuynh hướng chia rẽ, cô lập của nhân loại.

c. Âm điệu và rung động của Ngài chỉ có thể được cảm nhận bởi những ai có âm điệu (note) cá biệt cũng có tính chất tổng hợp và mục đích trong cuộc sống người này là ý– chí–hành–thiện (will–to–good). Tất nhiên đây là các Thành Viên của Thánh Đoàn, các đệ tử và những người tìm đạo trên thế giới và một số ít người có thiện chí (men of good will).

2.– Một Vị Sứ giả hay Vị Hóa Thân ở cùng đẳng cấp với Đức Christ trong Thánh Đoàn (hay có thể là chính Đức Christ) có thể đến với cương vị là Đấng Hóa Thân Tổng Hợp và với vai trò là Tác nhân truyền đạt của Ngài.

a.  Đấng Hóa Thân thứ yếu này, ngày nay đang hoạt động với tư cách là một trong các Thành Viên cao cấp của Đại Bạch Giai (Great White Lodge) và có giao tiếp chặt chẽ với Đức Christ, với Đức Bàn Cổ và với Đức Văn Minh Bồ Tát (Lord of Civilisation), Chân Sư R. ; Ngài sẽ hành động như là Điều Phối Viên (Coordinator) giữa Thánh Đoàn với Shamballa. Ngài sẽ hòa lẫn và phối hợp trong chính Ngài, thông qua tính chất của sự sống riêng của Ngài, ba năng lượng lớn :

Năng lực ý–chí–tâm–linh (will–to–spiritual power). Ý–chí–bác–ái (will–to–love) với hàm ý tâm linh của nó. Ý–muốn–biểu–lộ về mặt tâm linh (will–to–manifest spiritually).

b.  Thời xa xưa, đã có sự thành đạt của Đấng Sắp Đến này; người ta đã tìm thấy thánh danh được dùng để chỉ Ngài trong rất nhiều kinh sách trên thế giới : Đấng Kỵ Mã ngự trên Bạch Mã. Danh xưng này liên quan đến thời kỳ trước khi câu nói rất nổi tiếng trong địa hạt Cơ Đốc giáo “Con cừu phải chịu hy sinh để tạo thành thế giới” (“The Lamb slain from the foundation of the world”). Trong chu kỳ trước các đệ tử điểm đạo đương thời có nói đến “con ngựa tế lễ, chịu hy sinh cho mọi sự vĩnh hằng” (“Sacrificial horse, slain to all eternity”). Câu này cũng có cùng ý tưởng căn bản.

c. Đấng Hóa Thân này có thể giáng xuống cõi trần và hiện ra ở đó để dẫn dắt con dân của Ngài – như là vị Hoàng Tử dẫn đường vượt qua chiến tranh đến hòa bình. [305]

d. Ngày nay, toàn bộ vấn đề trước mắt Thánh Đoàn và nhân loại, liên quan đến Đấng Hóa Thân sắp đến, có thể được tóm tắt trong bốn câu hỏi sau đây :
Ngài có thể mang theo với Ngài năng lượng tổng hợp nhờ đó mang lại các thay đổi nhanh chóng chăng ?
Điều này tùy vào bản thể Ngài có được Đấng Hóa Thân Tổng Hợp ứng linh (overshadowed) và tùy vào Vị Hóa Thân đó đang được thỉnh nguyện đến qua nguyện vọng và ý định có tập trung của nhân loại được Thánh Đoàn trợ giúp.
Nguyện vọng (demand) của con người có đủ mạnh để thỉnh gọi đến mãnh lực cao siêu, hay nó sẽ quá yếu ớt, vì bởi không gom lại được ý định có tập trung của các đệ tử và những người tìm đạo trên thế giới ?

Việc phù trợ cao siêu (higher overshadowing, ứng linh cao) sẽ không xảy ra và chỉ có Đấng Hóa Thân thứ yếu (lesser Avatar) đến để tiến hành một phương pháp chậm chạp hơn để cải cách từ từ hay chăng ? Phương pháp chậm chạp này sẽ chỉ cần đến nếu và bởi vì nhân loại sẽ phải chứng tỏ sự bất lực của mình trong việc thỉnh nguyện và nhận được năng lượng thiêng liêng ở mức độ cao hơn và có rung động mạnh mẽ hơn. Điều đó hoàn toàn do sự quyết định của các đệ tử và người tìm đạo trên thế giới; không phải do quyết định của nhân loại khốn khổ bị lừa dối và có tâm trạng hoang mang. Các đệ tử và người tìm đạo trên thế giới có lượng định được cuộc khủng hoảng và dịp may hay không? Nói chung, họ chưa làm được như thế.

3.– Ngày nay Thánh Đoàn trụ lại với ý định tập trung. Tiếng than của quần chúng đang dâng lên đến tận thánh môn của Shamballa. Nó mạnh hơn là nguyện vọng của người có định hướng về tâm linh – tức là các đệ tử, người tìm đạo, người có thiện chí. Theo quan điểm của Thánh Đoàn họ dường như bị áp đảo bởi sự trì trệ, bị cuốn hút bởi các lý thuyết và các chủ nghĩa lý tưởng của họ và bị mù tịt trước các vấn đề đang đặt ra. Họ có thể thức tỉnh không? Họ có thể trụ lại với ý định có tập trung, phụng sự và hoạt động bền bĩ ở [306] cõi trần, và nỗ lực quyết tranh đấu, thậm chí đến chết để đánh bại tà lực chăng? Họ có thể duy trì thái độ yêu thương bên trong và không có ý thức chia rẽ hay chăng? Họ có thể từ bỏ tất cả để yêu thương nhân loại không? Họ có thể hy sinh mọi việc cho đại nghĩa tự do và cho sự công chính không? Đây là vấn đề cần đối mặt của các Vị đang làm việc cho sự xuất lộ của các Đấng Hóa Thân hoặc vĩ đại hoặc thứ yếu, mà vào lúc này, các Ngài có thể cứu độ nhân loại nếu nhân loại mong muốn cứu độ và sẽ chọn các giai đoạn cần thiết.
Bạn chưa đăng nhập

ChanPhuong

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 672
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Sách của chân sư DK
« Trả lời #34 vào: 14 Tháng Một, 2018, 09:15:48 AM »

Sách viết cách nay đã gần 80 năm mà như viết về thời sự của Trái đất hiện nay. Đây là link download sách "Sự hiển lộ của Thánh Đoàn" - Chân sư DK viết qua A.A.B.:

https://vdocuments.site/download/alice-bailey-su-hien-lo-cua-thanh-doan
Bạn chưa đăng nhập

ChanPhuong

  • Thành viên
  • Đã thoát ra Đã thoát ra
  • Bài viết: 672
    • Xem hồ sơ cá nhân
Re: Sách của chân sư DK
« Trả lời #35 vào: 14 Tháng Một, 2018, 09:17:47 AM »

Còn đây là link download cuốn "Sự Tái Lâm của Đức Christ" - Chân sư DK viết qua AAB, tiên đoán về sự tái giáng lâm của Chúa:
https://vdocuments.site/download/alice-bailey-su-tai-lam-cua-duc-christ
Bạn chưa đăng nhập